Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Làm phụ đề phim (film subtitling) thường được xem là mảng công việc hào nhoáng và thú vị nhất trong ngành dịch thuật. Khán giả chỉ thấy những dòng chữ ngắn gọn, vừa vặn lướt qua dưới màn hình đồng điệu với từng cử chỉ của nhân vật, nhưng đằng sau đó là cả một quy trình kỹ thuật đòi hỏi tính kỷ luật cao độ: từ việc khớp mã thời gian (time code) chính xác đến từng khung hình, cân đo độ dài ký tự nghiêm ngặt, cho đến việc chuyển tải tinh tế các sắc thái văn hóa và tiếng lóng đặc trưng. Thông qua cuộc trò chuyện với dịch giả người Pháp Virginie Verdier tại công ty dịch thuật VSI (London), bài đọc Working in the Movies sẽ mở ra bức màn hậu trường chân thực về những thách thức kỹ nghệ của nghề làm phụ đề phim.
Thuộc chủ đề nghề nghiệp, dịch thuật & điện ảnh (Careers, Audiovisual Translation & Cinema), bài đọc sở hữu hệ thống thông tin quy trình chặt chẽ và từ vựng chuyên ngành thực tế. Đề thi kiểm tra thí sinh qua 3 dạng bài trọng tâm: Hoàn thành lưu đồ quy trình (Flow Chart Completion), Đúng/Sai/Không xác định (True/False/Not Given) và hoàn thành câu (Sentence Completion). Nếu các bạn đang tìm hiểu và luyện tập bài đọc này thì hãy tham khảo ngay bài viết sau của trung tâm ngoại ngữ ECE nhé.
Nội dung bài đọc (Reading Passage)
Working In The Movies
Subtitling is an exciting part of the translation profession. Melanie Leyshon talks to Virginie Verdier of London translation company VSI about the glamour and the grind.
[Paragraph 1] When people ask French translator Virginie Verdier what she does for a living, it must be tempting to say enigmatically: ‘Oh me? I’m in the movies’. It’s strictly true, but her starring role is behind the scenes. As translating goes, it doesn’t get more entertaining or glamorous than subtitling films. If you’re very lucky, you get to work on the new blockbuster films before they’re in the cinema, and if you’re just plain lucky, you get to work on the blockbuster movies that are going to video or DVD.
[Paragraph 2] Virginie is quick to point out that this is as exciting as any translating job. ‘You work hard. It’s not all entertainment as you are doing the translating. You need all the skills of a good translator and a top-notch editor. You have to be precise and of course, much more concise than in traditional translation work.’
[Paragraph 3] The process starts when you get the original script and a tape. ‘We would start with translating and adapting the film script. The next step is what we call ‘timing’, which means synchronising the subtitles to the dialogue and pictures.’ This task requires discipline. You play the film, listen to the voice and the subtitles are up on your screen ready to be timed. You insert your subtitle when you hear the corresponding dialogue and delete it when the dialogue finishes. The video tape carries a time code which runs in hours, minutes, seconds and frames. Think of it as a clock. The subtitling unit has an insert key to capture the time code where you want the subtitle to appear. When you press the delete key, it captures the time code where you want the subtitle to disappear. So each subtitle would have an ‘in’ point and an ‘out’ point which represent the exact time when the subtitle comes in and goes out. This process is then followed by a manual review, subtitle by subtitle, and time-codes are adjusted to improve synchronisation and respect shot changes. This process involves playing the film literally frame by frame as it is essential the subtitles respect the visual rhythm of the film.’
[Paragraph 4] Different subtitlers use different techniques. ‘I would go through the film and do the whole translation and then go right back from the beginning and start the timing process. But you could do it in different stages, translate let’s say 20 minutes of the film, then time this section and translate the next 20 minutes, and so on. It’s just a different method.’
[Paragraph 5] For multi-lingual projects, the timing is done first to create what is called a ‘spotting list’, a subtitle template, which is in effect a list of English subtitles pre-timed and edited for translation purposes. This is then translated and the timing is adapted to the target language with the help of the translator for quality control.
[Paragraph 6] ‘Like any translation work, you can’t hurry subtitling,’ says Virginie. ‘If subtitles are translated and timed in a rush, the quality will be affected and it will show.’ Mistakes usually occur when the translator does not master the source language and misunderstands the original dialogue. ‘Our work also involves checking and reworking subtitles when the translation is not up to standard. However, the reason for redoing subtitles is not just because of poor quality translation. We may need to adapt subtitles to a new version of the film: the time code may be different. The film may have been edited or the subtitles may have been created for the cinema rather than video. If subtitles were done for cinema on 35mm, we would need to reformat the timing for video, as subtitles could be out of synch or too fast. If the translation is good, we would obviously respect the work of the original translator.’
[Paragraph 7] On a more practical level, there are general subtitling rules to follow, says Virginie. ‘Subtitles should appear at the bottom of the screen and usually in the centre.’ She says that different countries use different standards and rules. In Scandinavian countries and Holland, for example, subtitles are traditionally left justified. Characters usually appear in white with a thin black border for easy reading against a white or light background. We can also use different colours for each speaker when subtitling for the hearing impaired. Subtitles should have a maximum of two lines and the maximum number of characters on each line should be between 32 and 39. Our company standard is 37 (different companies and countries have different standards).’
[Paragraph 8] Translators often have a favourite genre, whether it’s war films, musicals, comedies (one of the most difficult because of the subtleties and nuances of comedy in different countries), drama or corporate programmes. Each requires a certain tone and style. ‘VSI employs American subtitlers, which is incredibly useful as many of the films we subtitle are American,’ says Virginie. ‘For an English person, it would not be so easy to understand the meaning behind typically American expressions, and vice-versa.’
Questions
Questions 27–31
Complete the flow chart below.
Choose NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 27–31 on your answer sheet.
THE SUBTITLING PROCESS
-
Stage 1: Translate and adapt the script.
-
Stage 2: 27. _______________ — matching the subtitles to what is said involves recording time codes by using the 28. _______________ and _______________ keys.
-
Stage 3: 29. _______________ — in order to make the 30. _______________ better.
Multi-lingual projects
-
Stage 1: Produce something known as a 31. _______________ and translate that.
Questions 32–36
Do the following statements agree with the information given in the Reading Passage?
In boxes 32-36 on your answer sheet, write:
-
TRUE — if the statement agrees with the information
-
FALSE — if the statement contradicts the information
-
NOT GIVEN — if there is no information on this
32. For translators, all subtitling work on films is desirable.
33. Subtitling work involves a requirement that does not apply to other translation work.
34. Some subtitling techniques work better than others.
35. Few people are completely successful at subtitling comedies.
36. Every single movie has the same tone and style.
Questions 37–40
Complete the sentences below with words from the Reading Passage.
Use NO MORE THAN THREE WORDS for each answer.
Write your answers in boxes 37-40 on your answer sheet.
37. Poor subtitling can be a result of the subtitler not being excellent at _______________.
38. To create subtitles for a video version of a film, it may be necessary to _______________.
39. Subtitles usually have a _______________ around them.
40. Speakers can be distinguished from each other for the benefit of _______________.
Dịch nghĩa bài đọc hoàn chỉnh
[Đoạn 1] Khi mọi người hỏi dịch giả người Pháp Virginie Verdier rằng cô làm gì để kiếm sống, thật khó để cưỡng lại cảm giác muốn trả lời một cách đầy bí ẩn: “Ồ, tôi ư? Tôi làm trong ngành điện ảnh đấy.” Điều đó hoàn toàn chính xác theo nghĩa đen, nhưng vai diễn chính của cô lại nằm ở phía sau hậu trường. Xét trong nghề dịch thuật, không có mảng công việc nào mang tính giải trí hay hào nhoáng hơn việc làm phụ đề phim. Nếu bạn cực kỳ may mắn, bạn sẽ được dịch những bộ phim bom tấn mới trước khi chúng ra rạp; còn nếu bạn chỉ đơn thuần là may mắn, bạn sẽ được làm việc với các phim bom tấn chuẩn bị phát hành dưới dạng băng đĩa video hoặc DVD.
[Đoạn 2] Virginie nhanh chóng chỉ ra rằng công việc này cũng đòi hỏi sự nỗ lực như bất kỳ công việc dịch thuật nào khác: “Bạn phải làm việc rất chăm chỉ. Đó không hoàn toàn là sự giải trí khi bạn đang trực tiếp dịch. Bạn cần tất cả kỹ năng của một dịch giả giỏi cùng trình độ của một biên tập viên hàng đầu. Bạn phải cực kỳ chuẩn xác và tất nhiên, phải ngắn gọn, súc tích hơn nhiều so với công việc dịch thuật truyền thống.”
[Đoạn 3] Quy trình bắt đầu khi bạn nhận được kịch bản gốc và một cuộn băng video: “Chúng tôi sẽ bắt đầu bằng việc dịch và hiệu đính kịch bản phim. Bước tiếp theo là công đoạn mà chúng tôi gọi là ‘canh thời gian’ (timing), tức là đồng bộ hóa phụ đề với lời thoại và hình ảnh.” Nhiệm vụ này đòi hỏi tính kỷ luật cao. Bạn bật phim lên, lắng nghe giọng nói nhân vật và phụ đề hiện lên trên màn hình đã sẵn sàng để canh thời gian. Bạn chèn phụ đề vào khi nghe thấy lời thoại tương ứng và xóa đi khi lời thoại kết thúc. Băng video mang một mã thời gian chạy theo giờ, phút, giây và từng khung hình (frame). Hãy hình dung nó như một chiếc đồng hồ. Thiết bị làm phụ đề có một phím chèn (insert key) để ghi lại mã thời gian nơi bạn muốn phụ đề xuất hiện. Khi bạn nhấn phím xóa (delete key), nó sẽ ghi nhận mã thời gian nơi bạn muốn phụ đề biến mất. Do đó, mỗi phụ đề sẽ có một điểm “vào” (in point) và điểm “ra” (out point) đại diện cho thời điểm chính xác khi dòng chữ xuất hiện và biến mất. Công đoạn này sau đó được tiếp nối bằng một quá trình rà soát thủ công (manual review), kiểm tra từng phụ đề một, và mã thời gian được căn chỉnh lại để nâng cao độ đồng bộ và tôn trọng các chuyển cảnh của góc quay. Quá trình này đòi hỏi phải phát lại bộ phim theo đúng nghĩa đen là từng khung hình một, bởi điều cốt yếu là phụ đề phải hòa hợp với nhịp điệu thị giác của bộ phim.
[Đoạn 4] Các chuyên viên phụ đề khác nhau áp dụng những kỹ thuật làm việc khác nhau: “Tôi thường xem hết cả bộ phim để hoàn thành toàn bộ phần dịch trước, sau đó quay lại từ đầu và bắt đầu quy trình canh thời gian. Nhưng bạn cũng có thể chia thành nhiều giai đoạn nhỏ — chẳng hạn dịch 20 phút đầu phim, sau đó canh thời gian cho đoạn đó rồi mới dịch tiếp 20 phút tiếp theo. Đó chỉ đơn giản là những phương pháp tiếp cận khác nhau.”
[Đoạn 5] Đối với các dự án đa ngôn ngữ, công đoạn canh thời gian được thực hiện trước tiên để tạo ra cái gọi là “danh sách khớp thời gian” (spotting list) — một bản mẫu phụ đề thực chất là danh sách phụ đề tiếng Anh đã được canh thời gian và biên tập sẵn cho mục đích dịch thuật. Bản mẫu này sau đó được chuyển ngữ và thời gian hiển thị được điều chỉnh phù hợp với ngôn ngữ đích dưới sự hỗ trợ của dịch giả để kiểm soát chất lượng.
[Đoạn 6] “Giống như mọi công việc dịch thuật, bạn không thể vội vàng khi làm phụ đề,” Virginie chia sẻ. “Nếu phụ đề bị dịch và canh giờ một cách cẩu thả trong lúc gấp gáp, chất lượng sẽ bị ảnh hưởng và điều đó sẽ lộ rõ ngay.” Sai sót thường xảy ra khi người dịch không nắm vững ngôn ngữ nguồn và hiểu sai lời thoại gốc. “Công việc của chúng tôi cũng bao gồm việc kiểm tra và làm lại phụ đề khi bản dịch không đạt chuẩn. Tuy nhiên, lý do phải làm lại phụ đề không chỉ vì bản dịch kém chất lượng. Chúng tôi có thể cần điều chỉnh phụ đề cho một phiên bản mới của bộ phim: mã thời gian có thể khác nhau. Bộ phim có thể đã bị cắt dựng lại hoặc phụ đề ban đầu được tạo ra cho rạp chiếu bóng thay vì xem trên video. Nếu phụ đề được làm cho phim nhựa 35mm chiếu rạp, chúng tôi sẽ cần định dạng lại thời gian cho bản video, vì phụ đề có thể bị lệch nhịp hoặc chạy quá nhanh. Nếu bản dịch gốc đã tốt, chúng tôi hiển nhiên sẽ tôn trọng công sức của dịch giả ban đầu.”
[Đoạn 7] Về mặt thực hành, có những quy chuẩn chung khi làm phụ đề cần tuân thủ, theo Virginie: “Phụ đề nên xuất hiện ở phía dưới cùng của màn hình và thường nằm ở chính giữa.” Cô cho biết các quốc gia khác nhau áp dụng những tiêu chuẩn và quy tắc khác nhau. Ví dụ ở các nước Scandinavia và Hà Lan, phụ đề theo truyền thống được căn lề trái. Các ký tự thường có màu trắng với viền đen mỏng xung quanh để dễ đọc trên nền sáng hoặc nền trắng. Chúng tôi cũng có thể dùng các màu sắc khác nhau cho từng nhân vật khi làm phụ đề cho người khiếm thính. Phụ đề chỉ nên có tối đa hai dòng và số lượng ký tự tối đa trên mỗi dòng dao động từ 32 đến 39 ký tự. Tiêu chuẩn của công ty chúng tôi là 37 ký tự (mỗi công ty và quốc gia có những tiêu chuẩn riêng).”
[Đoạn 8] Các dịch giả thường có một thể loại phim yêu thích riêng, cho dù đó là phim chiến tranh, ca nhạc kịch, phim hài (một trong những thể loại khó nhất vì tính tinh tế và các sắc thái hài hước khác nhau ở từng quốc gia), phim chính kịch hay các chương trình doanh nghiệp. Mỗi thể loại đòi hỏi một văn phong và phong cách riêng biệt. “VSI tuyển dụng các chuyên viên phụ đề người Mỹ, điều này cực kỳ hữu ích vì rất nhiều bộ phim chúng tôi làm phụ đề là phim Mỹ,” Virginie nói. “Đối với một người Anh, sẽ không dễ dàng gì để thấu hiểu hết ý nghĩa đằng sau những cách diễn đạt mang đậm phong cách Mỹ, và ngược lại.”
Tổng hợp từ vựng học thuật nổi bật trong bài đọc
| Từ vựng / Cụm từ | Phân loại | Nghĩa trong bài đọc |
| Audiovisual translation | Cụm danh từ | Dịch thuật nghe nhìn / dịch phim ảnh |
| Top-notch editor | Cụm danh từ | Biên tập viên hàng đầu / xuất sắc |
| Concise | Tính từ | Ngắn gọn, súc tích (đặc trưng của phụ đề) |
| Synchronising / Timing | Danh động từ | Khớp thời gian / đồng bộ hóa âm thanh và hình ảnh |
| Visual rhythm | Cụm danh từ | Nhịp điệu hình ảnh của các cảnh quay trong phim |
| Spotting list | Thuật ngữ chuyên ngành | Bản mẫu phụ đề tiếng Anh đã khớp sẵn mã thời gian |
| Source language vs. Target language | Thuật ngữ ngôn ngữ học | Ngôn ngữ nguồn (gốc) vs. Ngôn ngữ đích (cần dịch) |
| Hearing impaired | Cụm danh từ | Người khiếm thính / người suy giảm thính lực |
Gợi ý đáp án bài đọc Working In The Movies
Questions 27–31: Flow Chart Completion
27. Đáp án: timing (hoặc Timing)
Dẫn chứng đoạn 3: “The next step is what we call ‘timing’, which means synchronising the subtitles to the dialogue and pictures.”
Phân tích: Bước 2 trong quy trình là việc khớp phụ đề với lời thoại, đoạn 3 định nghĩa rõ công đoạn này gọi là timing.
28. Đáp án: insert, delete (hoặc insert and delete)
Dẫn chứng đoạn 3: “The subtitling unit has an insert key to capture the time code… When you press the delete key, it captures the time code where you want the subtitle to disappear.”
Phân tích: Người làm phụ đề sử dụng phím chèn (insert) và phím xóa (delete) để ghi lại mã thời gian bắt đầu (in point) và kết thúc (out point).
29. Đáp án: manual review (hoặc Manual review)
Dẫn chứng đoạn 3: “This process is then followed by a manual review, subtitle by subtitle, and time-codes are adjusted…”
Phân tích: Bước 3 sau khi canh thời gian là tiến hành rà soát thủ công (manual review) từng dòng phụ đề một.
30. Đáp án: synchronisation (hoặc synchronization)
Dẫn chứng đoạn 3: “…and time-codes are adjusted to improve synchronisation and respect shot changes.”
Phân tích: Mục đích của việc rà soát thủ công và chỉnh sửa mã thời gian là để nâng cao độ đồng bộ (synchronisation / make the synchronisation better).
31. Đáp án: spotting list (hoặc Spotting list)
Dẫn chứng đoạn 5: “For multi-lingual projects, the timing is done first to create what is called a ‘spotting list’, a subtitle template…”
Phân tích: Trong các dự án đa ngôn ngữ, bước đầu tiên là tạo ra một bản mẫu phụ đề được gọi là spotting list.
Questions 32–36: True / False / Not Given
32. For translators, all subtitling work on films is desirable. -> Đáp án: TRUE
Dẫn chứng đoạn 1: “As translating goes, it doesn’t get more entertaining or glamorous than subtitling films. If you’re very lucky, you get to work on the new blockbuster films… and if you’re just plain lucky, you get to work on the blockbuster movies that are going to video or DVD.”
Phân tích: Tác giả khẳng định làm phụ đề phim là công việc hấp dẫn và thú vị nhất (doesn’t get more entertaining or glamorous). Dù làm phim chiếu rạp (very lucky) hay phim ra đĩa DVD (plain lucky), dịch giả đều cảm thấy may mắn. Điều này đồng nghĩa với việc mọi công việc làm phụ đề phim đều đáng mơ ước (desirable) đối với người dịch -> TRUE.
33. Subtitling work involves a requirement that does not apply to other translation work. -> Đáp án: TRUE
Dẫn chứng đoạn 2: “You have to be precise and of course, much more concise than in traditional translation work.”
Phân tích: Làm phụ đề đòi hỏi tính ngắn gọn, súc tích vượt trội (much more concise) so với công việc dịch thuật truyền thống. Đây chính là một yêu cầu đặc thù không áp dụng cho các mảng dịch thuật thông thường -> TRUE.
34. Some subtitling techniques work better than others. -> Đáp án: NOT GIVEN
Dẫn chứng đoạn 4: Virginie mô tả hai cách làm: dịch hết cả phim rồi mới canh giờ, hoặc dịch từng đoạn 20 phút rồi canh giờ từng đoạn. Cô kết luận: “It’s just a different method.” (Đó chỉ là phương pháp khác nhau). Bài đọc không đưa ra nhận xét hay so sánh kỹ thuật nào mang lại hiệu quả tốt hơn (work better) -> NOT GIVEN.
35. Few people are completely successful at subtitling comedies. -> Đáp án: NOT GIVEN
Dẫn chứng đoạn 8: Tác giả đề cập phim hài là một trong những thể loại khó nhất do sự tinh tế và sắc thái hài hước khác nhau giữa các nền văn hóa (one of the most difficult because of the subtleties and nuances…). Tuy nhiên, bài hoàn toàn không đưa ra số liệu hay nhận định rằng có rất ít người thành công hoàn toàn (few people completely successful) khi dịch thể loại này -> NOT GIVEN.
36. Every single movie has the same tone and style. -> Đáp án: FALSE
Dẫn chứng đoạn 8: “Translators often have a favourite genre, whether it’s war films, musicals, comedies… drama or corporate programmes. Each requires a certain tone and style.”
Phân tích: Mỗi thể loại phim đòi hỏi một phong cách và giọng điệu riêng biệt (each requires a certain tone and style). Khẳng định mọi bộ phim đều có cùng giọng điệu và phong cách là mâu thuẫn trực tiếp -> FALSE.
Questions 37–40: Sentence Completion
37. Đáp án: the source language (hoặc source language)
Dẫn chứng đoạn 6: “Mistakes usually occur when the translator does not master the source language and misunderstands the original dialogue.”
Phân tích: Phụ đề kém chất lượng xuất phát từ việc người dịch không tinh thông/nắm vững ngôn ngữ nguồn (not master the source language -> not being excellent at the source language).
38. Đáp án: reformat the timing
Dẫn chứng đoạn 6: “If subtitles were done for cinema on 35mm, we would need to reformat the timing for video, as subtitles could be out of synch or too fast.”
Phân tích: Khi chuyển phụ đề từ bản chiếu rạp sang bản video, cần phải định dạng lại thời gian (reformat the timing).
39. Đáp án: thin black border (hoặc black border)
Dẫn chứng đoạn 7: “Characters usually appear in white with a thin black border for easy reading against a white or light background.”
Phân tích: Các chữ cái phụ đề thường có một đường viền đen mỏng xung quanh (thin black border) để dễ nhìn trên nền sáng.
40. Đáp án: the hearing impaired (hoặc hearing impaired)
Dẫn chứng đoạn 7: “We can also use different colours for each speaker when subtitling for the hearing impaired.”
Phân tích: Việc phân biệt màu sắc cho từng nhân vật nói nhằm phục vụ lợi ích của nhóm khán giả khiếm thính (the hearing impaired).
Tổng kết lại, bài đọc Working in the Movies cung cấp một góc nhìn chân thực và thú vị về nghề làm phụ đề phim ảnh: đằng sau vẻ đẹp hào nhoáng của môn nghệ thuật thứ bảy là quy trình làm việc chuẩn xác, sự am hiểu sâu sắc về văn hóa ngôn ngữ và tính kỷ luật cao độ của những dịch giả thầm lặng sau màn ảnh.
Đối với bài thi IELTS Reading, bài học rút ra từ văn bản này là kỹ năng nắm bắt mạch quy trình từng bước (Stage 1, Stage 2, Stage 3) để xử lý dạng Flow Chart Completion, kết hợp sự tỉnh táo khi phân biệt giữa độ khó của công việc (difficult) với tỷ lệ thành công (few people successful -> Not Given). Chúc bạn ôn luyện hiệu quả và tự tin bứt phá band điểm IELTS Reading mục tiêu!

Chưa có bình luận nào!