Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Trong nhiều thập kỷ, nền kinh tế thế giới vốn được chi phối bởi các quốc gia phát triển phương Tây. Tuy nhiên, sự vươn lên mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi (emerging economies) như Trung Quốc, Ấn Độ hay khu vực Đông Âu đã và đang tạo ra một bước chuyển dịch địa chính trị – kinh tế lớn nhất trong hơn một thế kỷ qua. Bài đọc Coming of Age mang đến cái nhìn toàn diện về hiện tượng này: từ các chỉ số tăng trưởng kỷ lục, lý do giúp các nước đang phát triển bứt phá nhanh chóng, cho đến tác động hai mặt của toàn cầu hóa đối với thu nhập và lực lượng lao động ở các nước giàu.
Đối với các sĩ tử luyện thi IELTS, bài đọc Coming of Age là một ngữ liệu kinh điển thuộc chủ đề kinh tế học & toàn cầu hóa (Economics & Globalisation). Bài đọc sở hữu tư duy lập luận chặt chẽ, các từ vựng học thuật cao cấp và lượng câu hỏi đa dạng bao gồm: Nối thông tin với đoạn văn (Matching Information), hoàn thành câu (Sentence Completion) và Đúng/Sai/Không xác định (True/False/Not Given). Dưới đây, trung tâm ngoại ngữ ECE mang đến bản dịch chi tiết, danh mục từ vựng cốt lõi cùng phần phân tích đáp án bám sát từ khóa để giúp bạn ôn luyện hiệu quả.
Nội dung bài đọc (Reading Passage)
Coming of Age
[Paragraph A] Three striking facts highlight the dramatic shift in recent years in the relative economic balance of “first-world” and “third-world” economies. Last year, according to our estimates, emerging economies produced slightly more than half of world output measured at purchasing-power parity. Second, they also accounted for more than half of the increase in global GDP in current-dollar terms. And third, perhaps most striking of all, the 32 biggest emerging economies grew in both 2004 and 2005. Every previous year during the past three decades saw at least one country in recession – if not a deep crisis. Some economies will inevitably stumble over the coming years, but, thanks to sounder policies, most can look forward to rapid long-term growth. The young emerging economies have grown up in more ways than one.
[Paragraph B] Such happenings are part of the biggest shift in economic strength since the emergence of the United States more than a century ago. As developing countries and the former Soviet bloc have embraced market-friendly economic reforms and opened their borders to trade and investment, more countries are industrialising than ever before and more quickly. During their industrial revolutions, America and Britain took 50 years to double their real incomes per head; today China is achieving that in a single decade. In an open world, it is much easier to catch up by adopting advanced countries’ technology than it is to be an economic leader that has to invent new technologies in order to keep growing. The shift in economic power towards emerging economies is therefore likely to continue. This is returning the world to the sort of state that endured throughout most of its history. People forget that, until the late 19th century, China and India were the world’s two biggest economies and today’s “emerging economies” accounted for the bulk of world production.
[Paragraph C] Many bosses, workers, and politicians in the rich world fear that the success of these newcomers will be at their own expense. However, rich countries will gain more than they lose from the enrichment of others. Fears that the third world will steal rich-world output and jobs are based on the old fallacy that an increase in one country’s output must be at the expense of another’s. But more exports give developing countries more money to spend on imports mainly from developed economies. Faster growth in poor countries is therefore more likely to increase the output of their richer counterparts than to reduce it. The emerging economies are helping to lift world GDP growth at the very time when the rich world’s ageing populations would otherwise cause growth to slow significantly.
[Paragraph D] Although stronger growth in emerging economies will make developed countries as a whole better off, not everybody will be a winner. Globalisation is causing the biggest shift in relative prices (of labour, capital, commodities, and goods) for a century, and this in turn is causing a significant redistribution of income. Low-skilled workers in developed economies are losing out relative to skilled workers. And owners of capital are grabbing a bigger slice of the cake relative to workers as a whole.
[Paragraph E] As a result of China, India, and the former Soviet Union embracing market capitalism, the global labour force has doubled in size. To the extent that this has made labour more abundant, and capital relatively scarcer, it has put downward pressure on wages relative to the return on capital. Throughout the rich world, profits have surged to record levels as a share of national income, while the workers’ slice has fallen. Hence, Western workers as a whole do not appear to have shared fully in the fruits of globalisation; many low-skilled ones may even be worse off. However, this is only part of the story. Workers’ wages may be squeezed, but as consumers they benefit from lower prices. As shareholders and future pensioners, they stand to gain from a more efficient use of global capital. Competition from emerging economies should also help to spur rich-world productivity growth and thus, average incomes.
[Paragraph F] To the extent that rich economies as a whole gain from the new wealth of emerging ones, governments have more scope to compensate losers. Governments have another vital role to play, too. The intensifying competition from emerging economies makes flexible labour and product markets even more imperative, so as to speed up the shift from old industries to new ones. That is why Europe and Japan cannot afford to drag their heels over reform or leave workers ill equipped to take up tomorrow’s jobs. Developed countries that are quick to abandon declining industries and move upmarket into new industries and services will fare best as the emerging economies come of age. Those that resist change can look forward to years of relative decline. Those that embrace it can best share in the emerging economies’ astonishing new wealth.
Questions
Questions 1-4
Which paragraph contains the following information?
Write the correct letter, A – F, in boxes 1-4 on your answer sheet.
1. Advice for developed countries
2. The reason that it is faster to develop nowadays
3. The fact that in the 30 years before 2004, not all large developing economies grew
4. The fact that domination of the global economy by Western countries is unusual in global history
Questions 5-8
Complete the following sentences using NO MORE THAN THREE WORDS from the text for each gap.
-
Developing economies can catch up with developed ones faster because they don’t have to 5. _______________.
-
Growth in developing countries helps developed economies because of spending 6. _______________.
-
Capital is being used more efficiently because it is 7. _______________.
-
Economic 8. _______________ is required in many developed economies.
Questions 9-13
Do the following statements agree with the information given in the Reading Passage? Write:
-
TRUE — if the statement agrees with the information
-
FALSE — if the statement contradicts the information
-
NOT GIVEN — if there is no information on this
9. Large developing economies should not have any problems in the future.
10. If one country increases production, another country will have to reduce its production.
11. Globalisation is causing greater differences in income.
12. Low-skilled workers in developed economies are earning less.
13. Japan is not spending enough on education.
Dịch nghĩa bài đọc chi tiết
[Đoạn A] Ba sự thật nổi bật phản ánh bước chuyển dịch mạnh mẽ trong những năm gần đây về tương quan thế lực kinh tế giữa các nền kinh tế “thế giới thứ nhất” và “thế giới thứ ba”. Năm ngoái, theo ước tính của chúng tôi, các nền kinh tế mới nổi đã sản xuất hơn một nửa sản lượng toàn cầu tính theo sức mua tương đương. Thứ hai, họ cũng đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng GDP toàn cầu tính theo giá trị USD hiện hành. Và thứ ba, có lẽ là điều ấn tượng nhất, 32 nền kinh tế mới nổi lớn nhất đều tăng trưởng trong cả hai năm 2004 và 2005. Trong suốt ba thập kỷ trước đó, mỗi năm đều chứng kiến ít nhất một quốc gia rơi vào suy thoái — nếu không muốn nói là khủng hoảng sâu sắc. Một số nền kinh tế chắc chắn sẽ vấp ngã trong những năm tới, nhưng nhờ vào các chính sách lành mạnh hơn, hầu hết đều có thể kỳ vọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng trong dài hạn. Các nền kinh tế mới nổi non trẻ đã thực sự “trưởng thành” theo nhiều nghĩa.
[Đoạn B] Những sự kiện này là một phần của sự chuyển dịch sức mạnh kinh tế lớn nhất kể từ khi Mỹ vươn lên hơn một thế kỷ trước. Khi các nước đang phát triển và khối Xô Viết cũ đón nhận các cải cách kinh tế theo hướng thị trường và mở cửa biên giới cho thương mại và đầu tư, số lượng các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa nhiều hơn và nhanh hơn bao giờ hết. Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, Mỹ và Anh phải mất 50 năm để nhân đôi thu nhập thực tế trên đầu người; ngày nay Trung Quốc đạt được điều đó chỉ trong một thập kỷ. Trong một thế giới mở, việc bắt kịp bằng cách tiếp thu công nghệ của các nước tiên tiến dễ dàng hơn nhiều so với việc làm một vị trí dẫn đầu kinh tế phải tự phát minh ra các công nghệ mới để duy trì tăng trưởng. Sự chuyển dịch sức mạnh kinh tế về phía các nền kinh tế mới nổi do đó nhiều khả năng sẽ tiếp tục. Điều này đang đưa thế giới trở lại trạng thái vốn đã tồn tại trong phần lớn lịch sử của nó. Mọi người thường quên rằng, cho đến cuối thế kỷ 19, Trung Quốc và Ấn Độ là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới và các “nền kinh tế mới nổi” ngày nay từng chiếm phần lớn sản lượng toàn cầu.
[Đoạn C] Nhiều ông chủ, công nhân và chính trị gia ở thế giới giàu có lo sợ rằng sự thành công của những kẻ mới đến này sẽ trả giá bằng chính lợi ích của họ. Tuy nhiên, các nước giàu sẽ thu được nhiều hơn mất từ sự giàu có của các nước khác. Mối lo ngại rằng thế giới thứ ba sẽ “đánh cắp” sản lượng và việc làm của thế giới giàu bắt nguồn từ một ngụy biện cũ kỹ rằng sự gia tăng sản lượng của một quốc gia phải trả giá bằng sản lượng của quốc gia khác. Nhưng việc xuất khẩu nhiều hơn mang lại cho các nước đang phát triển nhiều tiền hơn để chi tiêu cho nhập khẩu, chủ yếu từ các nền kinh tế phát triển. Do đó, sự tăng trưởng nhanh hơn ở các nước nghèo nhiều khả năng sẽ làm tăng sản lượng của các đối tác giàu có hơn là làm giảm nó. Các nền kinh tế mới nổi đang góp phần nâng cao tăng trưởng GDP toàn cầu đúng vào thời điểm mà dân số già hóa của thế giới giàu có nếu không sẽ làm cho tăng trưởng chậm lại đáng kể.
[Đoạn D] Mặc dù sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn ở các nền kinh tế mới nổi sẽ giúp tổng thể các nước phát triển trở nên tốt hơn, nhưng không phải ai cũng là người chiến thắng. Toàn cầu hóa đang gây ra sự thay đổi lớn nhất về giá cả tương đối (của lao động, vốn, hàng hóa cơ bản và hàng hóa thành phẩm) trong một thế giới kỷ, và điều này lại dẫn đến sự phân phối lại thu nhập đáng kể. Những lao động kỹ năng thấp ở các nền kinh tế phát triển đang chịu thiệt thòi so với những lao động có kỹ năng. Và các chủ sở hữu vốn đang chiếm một phần bánh lớn hơn so với tổng thể người lao động.
[Đoạn E] Kết quả của việc Trung Quốc, Ấn Độ và Liên Xô cũ đón nhận chủ nghĩa tư bản thị trường là lực lượng lao động toàn cầu đã tăng gấp đôi về quy mô. Trong chừng mực điều này làm cho lao động trở nên dồi dào hơn và vốn tương đối khan hiếm hơn, nó đã tạo áp lực giảm lương so với lợi nhuận trên vốn. Trên khắp thế giới giàu có, lợi nhuận đã tăng lên mức kỷ lục trong tổng thu nhập quốc dân, trong khi phần dành cho người lao động lại giảm xuống. Do đó, người lao động phương Tây nói chung có vẻ như chưa được chia sẻ đầy đủ thành quả của toàn cầu hóa; nhiều người kỹ năng thấp thậm chí có thể tồi tệ hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của câu chuyện. Tiền lương của người lao động có thể bị chèn ép, nhưng với tư cách là người tiêu dùng, họ thu lợi từ giá cả thấp hơn. Với tư cách là cổ đông và người hưởng lương hưu tương lai, họ có khả năng thu lợi từ việc sử dụng vốn toàn cầu hiệu quả hơn. Sự cạnh tranh từ các nền kinh tế mới nổi cũng sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng năng suất của thế giới giàu, và do đó, nâng cao thu nhập bình quân.
[Đoạn F] Trong chừng mực các nền kinh tế giàu có nói chung thu lợi từ nguồn tài sản mới của các nền kinh tế mới nổi, các chính phủ có nhiều không gian hơn để bồi thường cho những người chịu thiệt thòi. Chính phủ cũng có một vai trò thiết yếu khác. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nền kinh tế mới nổi khiến cho thị trường lao động và sản phẩm linh hoạt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch từ các ngành công nghiệp cũ sang các ngành công nghiệp mới. Đó là lý do tại sao Châu Âu và Nhật Bản không thể chần chừ trong việc cải cách hoặc để người lao động thiếu trang bị cho các công việc của tương lai. Các nước phát triển nhanh chóng từ bỏ các ngành công nghiệp đang suy thoái và di chuyển lên phân khúc cao hơn trong các ngành công nghiệp và dịch vụ mới sẽ hoạt động tốt nhất khi các nền kinh tế mới nổi trưởng thành. Những nước chống lại sự thay đổi có thể phải đối mặt với nhiều năm suy ngoái tương đối. Những nước đón nhận nó có thể chia sẻ tốt nhất nguồn tài sản mới kinh ngạc của các nền kinh tế mới nổi.
Tổng hợp từ vựng học thuật cốt lõi (Academic Vocabulary)
| Từ vựng / Cụm từ | Phân loại | Nghĩa trong bài đọc |
| Purchasing-power parity | Cụm danh từ | Sức mua tương đương (PPP) |
| Market-friendly economic reforms | Cụm danh từ | Cải cách kinh tế thân thiện với thị trường |
| Bulk of world production | Cụm danh từ | Phần lớn sản lượng toàn cầu |
| Fallacy | Danh từ | Ngụy biện / Quan điểm sai lầm |
| Redistribution of income | Cụm danh từ | Sự phân phối lại thu nhập |
| Downward pressure on wages | Cụm danh từ | Áp lực giảm lương |
| Spur productivity growth | Cụm động từ | Thúc đẩy tăng trưởng năng suất |
| Drag their heels | Cụm động từ | Trì hoãn / Chần chừ không muốn làm |
Gợi ý đáp án bài đọc Coming of Age
Questions 1-4: Matching Information
1. Advice for developed countries -> Đáp án: F
Phân tích: Lời khuyên dành cho các nước phát triển xuất hiện rõ ràng ở đoạn F: Các chính phủ cần đền bù cho nhóm chịu thiệt thòi, tạo thị trường lao động linh hoạt, nhanh chóng từ bỏ các ngành công nghiệp suy thoái để chuyển sang ngành mới (abandon declining industries and move upmarket into new industries).
2. The reason that it is faster to develop nowadays -> Đáp án: B
Phân tích: Nguyên nhân khiến việc phát triển ngày nay nhanh hơn được giải thích ở đoạn B: Trong một thế giới mở, các nước chỉ cần tiếp thu công nghệ sẵn có của các nước tiên tiến (adopting advanced countries’ technology) thay vì phải tự phát minh ra công nghệ mới từ đầu.
3. The fact that in the 30 years before 2004, not all large developing economies grew -> Đáp án: A
Phân tích: Đoạn A đưa ra dữ liệu: Trong 30 năm trước 2004, năm nào cũng có ít nhất một quốc gia rơi vào suy thoái (Every previous year during the past three decades saw at least one country in recession). Điều này khẳng định không phải tất cả các nền kinh tế lớn đều tăng trưởng trong giai đoạn đó.
4. The fact that domination of the global economy by Western countries is unusual in global history -> Đáp án: B
Phân tích: Cuối đoạn B nhấn mạnh rằng việc phương Tây thống trị kinh tế là điều bất thường trong lịch sử (returning the world to the sort of state that endured throughout most of its history). Thực tế, cho đến cuối thế kỷ 19, Trung Quốc và Ấn Độ mới là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Questions 5-8: Sentence Completion
5. Đáp án: invent new technologies
Phân tích: Tìm điều mà các nước đang phát triển không bắt buộc phải làm khi muốn đuổi kịp các nước phát triển. Đối chiếu đoạn B: “…much easier to catch up by adopting advanced countries’ technology than it is to be an economic leader that has to invent new technologies in order to keep growing.”
6. Đáp án: on imports
Phân tích: Sự tăng trưởng ở các nước đang phát triển giúp ích cho nước giàu nhờ vào việc họ chi tiêu tiền vào cái gì. Đối chiếu đoạn C: “…more exports give developing countries more money to spend on imports mainly from developed economies.”
7. Đáp án: relatively scarcer
Phân tích: Tìm tình trạng/tính chất của nguồn vốn (capital) khiến nó được sử dụng hiệu quả hơn. Đối chiếu đoạn E: “…this has made labour more abundant, and capital relatively scarcer…” (Lao động dồi dào hơn và vốn tương đối khan hiếm hơn).
8. Đáp án: reform
Phân tích: Tìm danh từ chỉ yêu cầu bắt buộc đối với nhiều nền kinh tế phát triển (như Châu Âu hay Nhật Bản). Đối chiếu đoạn F: “…Europe and Japan cannot afford to drag their heels over reform…” (Châu Âu và Nhật Bản không thể chần chừ trong việc cải cách).
Questions 9-13: True / False / Not Given
9. Đáp án: FALSE
Phân tích: Đề bài khẳng định các nền kinh tế đang phát triển lớn sẽ không gặp bất kỳ vấn đề nào trong tương lai (should not have any problems). Đối chiếu đoạn A: “Some economies will inevitably stumble over the coming years…” (Một số nền kinh tế chắc chắn sẽ vấp ngã/gặp sự cố trong những năm tới). Hai thông tin trái ngược hoàn toàn, chọn FALSE.
10. Đáp án: FALSE
Phân tích: Đề bài nói nếu một nước tăng sản xuất thì nước khác bắt buộc phải giảm sản xuất. Đối chiếu đoạn C: Tác giả gọi đây là một ngụy biện cũ kỹ (old fallacy), và khẳng định: “Faster growth in poor countries is therefore more likely to increase the output of their richer counterparts than to reduce it.” (Tăng trưởng ở nước nghèo giúp tăng sản lượng nước giàu chứ không làm giảm). Chọn FALSE.
11. Đáp án: TRUE
Phân tích: Đề bài khẳng định toàn cầu hóa đang gây ra sự chênh lệch/khác biệt lớn hơn về thu nhập. Đối chiếu đoạn D: “Globalisation is causing… a significant redistribution of income. Low-skilled workers… are losing out… owners of capital are grabbing a bigger slice…”. Toàn cầu hóa làm tăng lợi nhuận của chủ vốn nhưng làm giảm phần thu nhập của lao động kỹ năng thấp, dẫn đến khoảng cách thu nhập lớn hơn. Chọn TRUE.
12. Đáp án: NOT GIVEN
Phân tích: Đề bài nói lao động kỹ năng thấp ở các nước phát triển đang kiếm được ít tiền hơn (earning less). Đoạn D & E đề cập họ chịu thiệt thòi tương đối (losing out relative to skilled workers), bị chèn ép tiền lương (wages may be squeezed), nhưng hoàn toàn không đưa ra số liệu khẳng định mức thu nhập thực tế của họ có bị giảm tuyệt đối hay không. Chọn NOT GIVEN.
13. Đáp án: NOT GIVEN
Phân tích: Đề bài nói Nhật Bản không chi đủ tiền cho giáo dục. Đoạn F có nhắc đến Nhật Bản cùng Châu Âu trong ngữ cảnh khuyến cáo không nên chần chừ cải cách thị trường lao động (Europe and Japan cannot afford to drag their heels over reform), nhưng hoàn toàn không đề cập đến ngân sách hay chi tiêu cho giáo dục của Nhật Bản. Chọn NOT GIVEN.
Tổng kết lại, bài đọc Coming of Age cung cấp một góc nhìn kinh tế học chuyên sâu về sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi và những tác động đa chiều của toàn cầu hóa đối với trật tự thế giới. Qua việc phân tích các chỉ số tăng trưởng, quy luật cung cầu lao động – vốn và các khuyến nghị cải cách cho thế giới giàu, bài đọc giúp người học nâng cao tư duy phản biện và làm quen với lập luận khoa học xã hội phức tạp.
Đây là một ngữ liệu ôn tập tuyệt vời cho các dạng bài Matching Information và True/False/Not Given. Hy vọng bài viết chi tiết này từ trung tâm ngoại ngữ ECE sẽ là hành trang hữu ích giúp bạn nâng cao kỹ năng đọc hiểu và tự tin chinh phục band điểm IELTS Reading mục tiêu!

Chưa có bình luận nào!