Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Bài đọc Air Conditioning the Earth phân tích cơ chế vận hành của bầu khí quyển như một chiếc máy điều hòa khổng lồ của hành tinh thông qua quá trình đối lưu, hoàn lưu khí quyển và sự dịch chuyển nhiệt lượng từ xích đạo về hai cực. Bài đọc không chỉ lý giải nguyên lý hình thành các đới khí hậu và mặt tiền thời tiết mà còn làm rõ vai trò của các hệ thống gió đối với lịch sử hàng hải nhân loại. Bài thi này thử thách thí sinh qua ba dạng câu hỏi: Chú thích sơ đồ (Diagram Labelling), hoàn thành đoạn tóm tắt có từ gợi ý (Summary Completion with a Box) và phân loại thông tin (Classification). Các bạn hãy cùng trung tâm ngoại ngữ ECE tìm hiểu bài đọc thú vị này nhé.
Nội dung bài đọc (Reading Passage)
Air conditioning the earth
[Paragraph 1] The circulation of air in the atmosphere is activated by convection, the transference of heat resulting from the fact that warm gases or fluids rise while cold gases or fluids sink. For example, if one wall of a room is heated whilst the opposite wall is cooled, air will rise against the warm wall and flow across the ceiling to the cold wall before descending to flow back across the floor to the warm wall again. The real atmosphere, however, is like a very long room with a very low ceiling.
[Paragraph 2] The distance from equator to pole is 10,000 km, while the ‘ceiling height’ to the beginning of the stratosphere is only about 10 km. The air therefore splits up into a number of smaller loops or convection cells. Between the equator and each pole there are three such cells and within these the circulation is mainly north-south.
Large-scale air-conditioning
[Paragraph 3] The result of this circulation is a flow of heat energy towards the poles and a leveling out of the climate so that both equatorial and polar regions are habitable. The atmosphere generally retains its state of equilibrium as every north-going air current is counterbalanced by a south-going one. In the same way depressions at lower levels in the troposphere are counterbalanced by areas of high pressure in the upper levels, and vice versa. The atmospheric transference of heat is closely associated with the movement of moisture between sea and continent and between different latitudes. Moist air can transport much greater quantities of energy than dry air.
[Paragraph 4] Because the belts of convection cells run east to west, both climate and weather vary according to latitude. Climatic zones are particularly distinguishable at sea where there are no land masses to disturb the pattern.
Man and the winds
[Paragraph 5] For thousands of years mankind has been dependent upon the winds: they brought rain to the land and carried ships across the seas. Thus the westerly wind belts, the trade winds and the monsoon winds of the global circulation systems have been known to us for many centuries.
[Paragraph 6] As recently as the 20th century, Arab ships sailed on the south-west monsoon winds from East Africa to India and back again on the north-east monsoon winds, without need of a compass. The winds alone were sufficient. In the equatorial convergence zone (the ‘doldrums’), and in the regions around the Tropic of Cancer and Tropic of Capricorn known as the ‘horse latitudes’, sailing ships could drift for weeks unable to steer, while the ‘roaring forties’ of the South Atlantic (40-50°S) were notorious among mariners for their terrible winds.
[Paragraph 7] It was not until the development of the balloon at the end of the 18th century, however, that it became possible to study meteorological conditions at high altitudes. The balloon is still a significant research device although today it carries a radar reflector or a set of instruments and a radio transmitter, rather than the scientists themselves. Nowadays high-flying aircraft and satellites are also important aids to meteorology. Through them we have discovered the west to east jet stream. This blows at speeds of up to 500 km/h at altitudes of 9,000-10,000 m along the border between the Arctic and temperate zone convection belts.
Weather fronts
[Paragraph 8] The circulation within the different convection cells is greater than the exchange of air between them and therefore the temperature in two cells that are close to each other can differ greatly. Consequently, the borders between the different convection cells are areas in which warm and cold air masses oppose each other, advancing and withdrawing. In the Northern Hemisphere, the dividing line between the Arctic and temperate convection zones is the polar front, and it is this which determines the weather in northern Europe and North America. This front is unstable, weaving sometimes northward, sometimes southward, of an average latitude of 60°N. Depressions become trapped within the deep concavities of this front and these subsequently move eastward along it with areas of rain and snowfall. In this way global air circulation determines not only the long-term climate but also the immediate weather.
Questions
Questions 1–3: Diagram Labelling
Label the diagram below.
Choose NO MORE THAN TWO WORDS AND/OR A NUMBER from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 1–3 on your answer sheet.
(Sơ đồ mặt cắt khí quyển minh họa hoàn lưu đối lưu từ xích đạo đến cực)
1. Distance from the North Pole to the equator: _______________
2. Ceiling height to the beginning of the stratosphere: _______________
3. Smaller loops into which the air splits up: _______________
Questions 4–7: Summary Completion with a Box
Complete the summary below using the list of words and phrases, A–L, below.
Write the appropriate letter, A–L, in boxes 4–7 on your answer sheet.
List of Words and Phrases:
A. on land
B. polar regions
C. moisture
D. heat
E. balanced
F. at sea
G. offset
H. pole
I. equatorial regions
J. latitude
K. in the air
L. longitude
Global air circulation spreads heat from the equator towards the 4. _______________. Generally, a state of balance in the atmosphere is maintained because the north-moving air currents are continually being 5. _______________ by the south ones. Within the system of heat transfer in the atmosphere, the climate is affected not only by 6. _______________ but also by the amount of moisture in the air. The most accurate geographical zone for the study of climate is 7. _______________, where there are no local wind systems.
Questions 8–12: Classification
Classify the following wind patterns according to whether the writer states they are:
A. useful
B. problematic
C. neither useful nor problematic
Write the correct letter, A, B, or C, in boxes 8–12 on your answer sheet.
8. ‘roaring forties’
9. south-west monsoon winds
10. west to east jet stream
11. ’horse latitudes’
12. north-east monsoon winds
Question 13: Short Answer Question
Answer the question below.
Choose NO MORE THAN THREE WORDS AND/OR A NUMBER from the passage.
Write your answer in box 13 on your answer sheet.
Which border between convection zones determines the weather in the Northern Hemisphere?
13. _______________
Dịch nghĩa bài đọc hoàn chỉnh
[Đoạn 1] Sự lưu thông của không khí trong khí quyển được kích hoạt bởi hiện tượng đối lưu — quá trình truyền nhiệt xuất phát từ thực tế là các chất khí hoặc chất lỏng ấm sẽ bốc lên cao trong khi các chất khí hoặc chất lỏng lạnh sẽ chìm xuống dưới. Ví dụ, nếu một bức tường của căn phòng được làm nóng trong khi bức tường đối diện được làm mát, không khí sẽ bốc lên dọc theo bức tường ấm, tràn qua trần nhà tới bức tường lạnh trước khi hạ xuống để di chuyển dọc theo sàn nhà quay trở lại bức tường ấm. Tuy nhiên, bầu khí quyển thực tế lại giống như một căn phòng rất dài với trần nhà rất thấp.
[Đoạn 2] Khoảng cách từ xích đạo đến cực là 10.000 km, trong khi “chiều cao trần” tính đến điểm bắt đầu của tầng bình lưu chỉ khoảng 10 km. Do đó, khối không khí bị chia tách thành một số vòng lặp nhỏ hơn, được gọi là các ô đối lưu (convection cells). Giữa xích đạo và mỗi cực có ba ô đối lưu như vậy, và bên trong các ô này sự lưu thông diễn ra chủ yếu theo chiều bắc – nam.
[Đoạn 3] Kết quả của sự lưu thông này là một dòng năng lượng nhiệt di chuyển về phía các cực và làm điều hòa khí hậu để cả vùng xích đạo lẫn vùng cực đều có thể sinh sống được. Bầu khí quyển nhìn chung luôn duy trì trạng thái cân bằng vì mọi luồng không khí dịch chuyển về hướng bắc đều được cân bằng lại bởi một luồng không khí dịch chuyển về hướng nam. Tương tự như vậy, các vùng áp thấp ở tầng dưới của tầng đối lưu được cân bằng bởi các vùng áp cao ở tầng trên, và ngược lại. Sự truyền nhiệt trong khí quyển gắn liền với sự dịch chuyển của độ ẩm giữa biển và đất liền cũng như giữa các vĩ độ khác nhau. Không khí ẩm có thể vận chuyển một lượng năng lượng lớn hơn nhiều so với không khí khô.
[Đoạn 4] Bởi vì các vành đai ô đối lưu chạy từ đông sang tây, cả khí hậu và thời tiết đều biến đổi theo vĩ độ. Các đới khí hậu có thể được nhận diện rõ rệt nhất ở ngoài biển khơi, nơi không có các khối đất liền làm xáo trộn quy luật phân bố này.
[Đoạn 5] Trong hàng ngàn năm qua, nhân loại đã luôn phụ thuộc vào các ngọn gió: chúng mang mưa đến cho đất liền và đưa thuyền buồm vượt đại dương. Vì thế, các vành đai gió tây ôn đới, gió mậu dịch và gió mùa của hệ thống hoàn lưu toàn cầu đã được con người biết đến suốt nhiều thế kỷ.
[Đoạn 6] Mãi đến tận thế kỷ 20, các tàu thuyền của người Ả Rập vẫn nương theo gió mùa tây nam để căng buồm từ Đông Phi sang Ấn Độ và quay trở lại nhờ gió mùa đông bắc mà không cần la bàn. Chỉ riêng sức gió đã là quá đủ. Ở đới hội tụ xích đạo (vùng “lặng gió”), và tại các khu vực xung quanh chí tuyến Bắc cùng chí tuyến Nam được gọi là “vĩ độ ngựa”, thuyền buồm có thể bị trôi dạt vô định suốt nhiều tuần do không thể bẻ lái; trong khi đó, vùng “vĩ độ 40 gầm thét” ở Nam Đại Tây Dương (40–50°N) lại khét tiếng đối với các thủy thủ bởi những cơn gió cuồng phong khủng khiếp.
[Đoạn 7] Tuy nhiên, mãi cho đến khi khí cầu phát triển vào cuối thế kỷ 18, con người mới có thể nghiên cứu các điều kiện khí tượng ở độ cao lớn. Khí cầu ngày nay vẫn là một thiết bị nghiên cứu quan trọng dù hiện giờ nó mang theo tấm phản xạ radar hoặc một bộ thiết bị đo đạc cùng máy phát vô tuyến thay vì chở chính các nhà khoa học. Ngày nay, máy bay tầm cao và vệ tinh cũng là những công cụ hỗ trợ đắc lực cho ngành khí tượng. Nhờ chúng, chúng ta đã phát hiện ra luồng tia thổi từ tây sang đông (jet stream). Luồng tia này thổi với vận tốc lên tới 500 km/h ở độ cao 9.000–10.000 m dọc theo ranh giới giữa vành đai đối lưu vùng Bắc Cực và vành đai đối lưu ôn đới.
[Đoạn 8] Hoàn lưu bên trong từng ô đối lưu mạnh hơn nhiều so với sự trao đổi khí giữa các ô với nhau, vì vậy nhiệt độ ở hai ô nằm cạnh nhau có thể chênh lệch rất lớn. Do đó, ranh giới giữa các ô đối lưu khác nhau là nơi các khối không khí nóng và lạnh đối đầu, tiến lên và lùi lại. Ở Bắc Bán Cầu, đường phân chia giữa đới đối lưu Bắc Cực và đới đối lưu ôn đới chính là frông vùng cực (polar front), và chính đường ranh giới này định đoạt thời tiết ở Bắc Âu và Bắc Mỹ. Frông này không ổn định, lúc uốn lượn lên phía bắc, khi lại võng xuống phía nam quanh vĩ độ trung bình 60°B. Các vùng áp thấp bị mắc kẹt bên trong những chỗ lõm sâu của frông này và sau đó di chuyển dọc theo nó về phía đông, mang theo mưa và tuyết rơi. Theo cách này, hoàn lưu không khí toàn cầu không chỉ quyết định khí hậu dài hạn mà còn chi phối trực tiếp thời tiết tức thời hàng ngày.
Tổng hợp từ vựng học thuật (Academic Vocabulary)
-
Atmospheric circulation (n): Hoàn lưu khí quyển.
-
Convection cell (n): Ô đối lưu, chu trình đối lưu khép kín.
-
Stratosphere / Troposphere (n): Tầng bình lưu / Tầng đối lưu.
-
State of equilibrium (phrase): Trạng thái cân bằng động.
-
Counterbalance / Offset (v): Bù trừ, cân bằng lại.
-
Depression (meteorology) (n): Vùng áp thấp khí quyển.
-
Trade winds / Monsoon winds (n): Gió mậu dịch / Gió mùa.
-
Equatorial convergence zone / Doldrums (n): Đới hội tụ xích đạo / Vùng biển lặng gió.
-
Jet stream (n): Dòng tia (luồng gió thổi rất mạnh ở tầng bình lưu/đối lưu cao).
-
Polar front (n): Frông vùng cực (ranh giới khí đoàn lạnh và ấm).
Gợi ý đáp án bài đọc Air Conditioning The Earth
Questions 1–3: Diagram Labelling
1. Đáp án: 10,000 km / 10,000 kilometers
Dẫn chứng đoạn 2: “The distance from equator to pole is 10,000 km…”
Phân tích: Khoảng cách từ cực Bắc đến xích đạo được nêu rõ ràng là 10,000 km.
2. Đáp án: 10 km / 10 kilometers
Dẫn chứng đoạn 2: “…while the ‘ceiling height’ to the beginning of the stratosphere is only about 10 km.”
Phân tích: Độ cao trần tính đến điểm bắt đầu của tầng bình lưu là khoảng 10 km.
3. Đáp án: convection cells / smaller loops
Dẫn chứng đoạn 2: “The air therefore splits up into a number of smaller loops or convection cells.”
Phân tích: Khối không khí bị phân chia thành các vòng lặp nhỏ hơn được gọi là các ô đối lưu (convection cells).
Questions 4–7: Summary Completion with a Box
4. Đáp án: B (polar regions)
Dẫn chứng đoạn 3: “The result of this circulation is a flow of heat energy towards the poles and a leveling out of the climate so that both equatorial and polar regions are habitable.”
Phân tích: Hoàn lưu không khí toàn cầu luân chuyển nhiệt lượng từ xích đạo về phía hai cực (towards the poles = towards the polar regions).
5. Đáp án: G (offset) hoặc E (balanced)
Dẫn chứng đoạn 3: “The atmosphere generally retains its state of equilibrium as every north-going air current is counterbalanced by a south-going one.”
Phân tích: Luồng khí đi về hướng bắc liên tục được đối trọng / bù trừ bởi luồng khí đi về hướng nam (counterbalanced đồng nghĩa với offset hoặc balanced).
6. Đáp án: J (latitude)
Dẫn chứng đoạn 3 & 4: “The atmospheric transference of heat is closely associated with the movement of moisture between sea and continent and between different latitudes… both climate and weather vary according to latitude.”
Phân tích: Khí hậu không chỉ bị chi phối bởi lượng hơi ẩm trong không khí mà còn theo vĩ độ (latitude – tương ứng chữ cái J).
7. Đáp án: F (at sea)
Dẫn chứng đoạn 4: “Climatic zones are particularly distinguishable at sea where there are no land masses to disturb the pattern.”
Phân tích: Vùng địa lý lý tưởng nhất để phân định rõ ràng các đới khí hậu là ngoài biển khơi (at sea – tương ứng chữ cái F), vì tại đây không có các khối đất liền gây nhiễu loạn mô hình gió.
Questions 8–12: Classification
8. ‘roaring forties’ -> Đáp án: B (problematic)
Dẫn chứng đoạn 6: “…while the ‘roaring forties’ of the South Atlantic (40-50°S) were notorious among mariners for their terrible winds.”
Phân tích: Vùng gió này khét tiếng với các thủy thủ vì gió bão kinh hoàng gây nguy hiểm cho tàu bè -> mang lại rắc rối (problematic).
9. south-west monsoon winds -> Đáp án: A (useful)
Dẫn chứng đoạn 6: “Arab ships sailed on the south-west monsoon winds from East Africa to India… without need of a compass. The winds alone were sufficient.”
Phân tích: Gió mùa tây nam giúp đẩy thuyền từ Đông Phi sang Ấn Độ an toàn mà không cần đến la bàn -> hữu ích (useful).
10. west to east jet stream -> Đáp án: C (neither useful nor problematic)
Dẫn chứng đoạn 7: “Through them we have discovered the west to east jet stream. This blows at speeds of up to 500 km/h at altitudes of 9,000-10,000 m…”
Phân tích: Tác giả chỉ mô tả việc phát hiện ra dòng tia này và tốc độ, độ cao của nó dưới góc độ khoa học khí tượng, hoàn toàn không đề cập đến việc nó mang lại lợi ích hay gây khó khăn gì cho con người -> neither useful nor problematic.
11. ’horse latitudes’ -> Đáp án: B (problematic)
Dẫn chứng đoạn 6: “…in the regions around the Tropic of Cancer and Tropic of Capricorn known as the ‘horse latitudes’, sailing ships could drift for weeks unable to steer…”
Phân tích: Tại các vĩ độ ngựa, thuyền buồm bị trôi dạt hàng tuần liền mà không thể điều khiển tay lái -> gây trở ngại, rắc rối lớn cho hành trình (problematic).
12. north-east monsoon winds -> Đáp án: A (useful)
Dẫn chứng đoạn 6: “…and back again on the north-east monsoon winds, without need of a compass. The winds alone were sufficient.”
Phân tích: Gió mùa đông bắc giúp các đoàn tàu đưa thủy thủ quay trở về an toàn -> hữu ích (useful).
Question 13: Short Answer Question
13. Đáp án: polar front / the polar front
Dẫn chứng đoạn 8: “In the Northern Hemisphere, the dividing line between the Arctic and temperate convection zones is the polar front, and it is this which determines the weather in northern Europe and North America.”
Phân tích: Ranh giới giữa đới đối lưu Bắc Cực và đới ôn đới có vai trò định đoạt thời tiết ở Bắc Bán Cầu chính là frông vùng cực (polar front).
Bài đọc trên là minh chứng điển hình cho thấy dạng đề IELTS Reading đòi hỏi thí sinh phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa khả năng định vị từ khóa và tư duy đọc hiểu bản chất. Với bản dịch sát nghĩa cùng phần phân tích đáp án tường minh từ trung tâm ngoại ngữ ECE, hy vọng bạn đã nắm vững cách xử lý các dạng bài khó cũng như tích lũy thêm vốn từ vựng đắt giá. Luyện tập đều đặn với các bài giải mã chuẩn hóa chính là chìa khóa ngắn nhất để bạn hình thành phản xạ phân tích sắc bén và sớm chạm tay tới band điểm mong muốn.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của trung tâm ngoại ngữ ECE. Các bạn hãy thường xuyên truy cập website ece.edu.vn để tìm hiểu nhiều bài đọc hữu ích về IELTS nhé.


Chưa có bình luận nào!