Katherine Mansfield IELTS Reading: Đáp án và từ vựng chi tiết

Bài đọc Katherine Mansfield khắc họa cuộc đời và sự nghiệp văn học ly kỳ của một trong những cây bút truyện ngắn hiện đại xuất sắc nhất thế giới đầu thế kỷ 20. Từ tuổi thơ êm đềm ở New Zealand, những năm tháng du học tại Anh, tình yêu với nghệ thuật cello cho đến hành trình theo đuổi sự nghiệp viết lách chuyên nghiệp đầy biến động cùng người chồng John Middleton Murry tại Châu Âu, bài văn bản mang đến một bức tranh tiểu sử chân thực và cảm động.

Đây là ngữ liệu thực chiến thuộc chủ đề Tiểu sử & Văn học (Biography & Literature), rất thích hợp để thí sinh rèn luyện kỹ năng định vị thông tin theo tiến trình thời gian. Đề thi tập trung vào hai dạng bài trọng tâm: True/False/Not Given và hoàn thành ghi chú (Note Completion). Bản dịch nghĩa bài đọc, tổng hợp các vựng học thuật cùng lời giải chi tiết do trung tâm ngoại ngữ ECE phân tích dưới đây sẽ giúp bạn làm chủ bài đọc này một cách dễ dàng.

Nội dung bài đọc (Reading Passage)

Katherine Mansfield

Katherine Mansfield was a modernist writer of short fiction who was born and brought up in New Zealand.

[Paragraph A] Katherine Mansfield Beauchamp Murry was born in 1888, into a prominent family in Wellington, New Zealand. She became one of New Zealand’s best-known writers, using the pen name of Katherine Mansfield. The daughter of a banker, and born into a middle-class family, she was also a first cousin of Countess Elizabeth von Arnim, a distinguished novelist in her time. Mansfield had two older sisters and a younger brother. Her father, Harold Beauchamp, went on to become the chairman of the Bank of New Zealand. In 1893, the Mansfield family moved to Karori, a suburb of Wellington, where Mansfield would spend the happiest years of her childhood; she later used her memories of this time as an inspiration for her Prelude story.

[Paragraph B] Her first published stories appeared in the High School Reporter and the Wellington Girls’ High School magazine in 1898 and 1899. In 1902, she developed strong feelings for a musician who played the cello, Arnold Trowell, although her feelings were not, for the most part, returned. Mansfield herself was an accomplished cellist, having received lessons from Trowell’s father. Mansfield wrote in her journals of feeling isolated to some extent in New Zealand, and, in general terms of her interest in the Maori people (New Zealand’s native people), who were often portrayed in a sympathetic light in her later stories, such as How Pearl Button Was Kidnapped.

[Paragraph C] She moved to London in 1903, where she attended Queen’s College, along with her two sisters. Mansfield recommenced playing the cello, an occupation that she believed, during her time at Queen’s, she would take up professionally. She also began contributing to the college newspaper, with such a dedication to it that she eventually became its editor. She was particularly interested in the works of the French writers of this period and on the 19th-century British writer, Oscar Wilde, and she was appreciated amongst fellow students at Queen’s for her lively and charismatic approach to life and work. She met fellow writer Ida Baker, a South African, at the college, and the pair became lifelong friends. Mansfield did not actively support the suffragette movement in the UK. Women in New Zealand had gained the right to vote in 1893.

[Paragraph D] Mansfield first began journeying into the other parts of Europe in the period 1903-1906, mainly to Belgium and Germany. After finishing her schooling in England, she returned to her New Zealand home in 1906, only then beginning to write short stories in a serious way. She had several works published in Australia in a magazine called Native Companion, which was her first paid writing work, and by this time she had her mind set on becoming a professional writer. It was also the first occasion on which she used the pseudonym “K. Mansfield”.

[Paragraph E] Mansfield rapidly grew discontented with the provincial New Zealand lifestyle, and with her family. Two years later she headed again for London. Her father sent her an annual subsidy of £100 for the rest of her life. In later years, she would express both admiration and disdain for New Zealand in her journals.

[Paragraph F] In 1911, Mansfield met John Middleton Murry, the Oxford scholar and editor of the literary magazine Rhythm. They were later to marry in 1918. Mansfield became a co-editor of Rhythm, which was subsequently called The Blue Review, in which more of her works were published. She and Murry lived in various houses in England and briefly in Paris. The Blue Review failed to gain enough readers and was no longer published. Their attempt to set up as writers in Paris was cut short by Murry’s bankruptcy, which resulted from the failure of this and other journals. Life back in England meant frequently changed addresses and very limited funds.

[Paragraph G] Between 1915 and 1918, Mansfield moved between England and Bandol, France. She and Murry developed close contact with other well-known writers of the time such as D.H. Lawrence, Bertrand Russell and Aldous Huxley. By October 1918 Mansfield had become seriously ill; she had been diagnosed with tuberculosis and was advised to enter a sanatorium. She could no longer spend time with writers in London. In the autumn of 1918 she was so ill that she decided to go to Ospedale in Italy. It was the publication of Bliss and Other Stories in 1920 that was to solidify Mansfield’s reputation as a writer.

[Paragraph H] Mansfield also spent time in Menton, France, as the tenant of her father’s cousin at “The Villa Isola Bella”. There she wrote what she pronounced to be “…the only story that satisfies me to any extent”.

[Paragraph I] Mansfield produced a great deal of work in the final years of her life, and much of her prose and poetry remained unpublished at her death in 1923. After her death, her husband, Murry, took on the task of editing and publishing her works. His efforts resulted in two additional volumes of short stories, The Doves’ Nest and Something Childish, published in 1923 and 1924 respectively, the publication of her Poems as well as a collection of critical writings (Novels and Novelists) and a number of editions of Mansfield’s previously unpublished letters and journals.

Questions

Questions 1-6

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1?

In spaces 1 – 6 on your answer sheet, write:

TRUEif the statement agrees with the information

FALSEif the statement contradicts the information

NOT GIVENif there is no information on this

1. The name Katherine Mansfield, that appears on the writer’s book, was exactly the same as her original name.

2. Mansfield won a prize for a story she wrote for the High School Reporter.

3. How Pearl Button Was Kidnapped portrayed Maori people in a favorable way.

4. When Mansfield was at Queen’s College, she planned to be a professional writer.

5. Mansfield was unpopular with the other students at Queen’s College.

6. In London, Mansfield showed little interest in politics.

Questions 7-13

Complete the notes below.

Choose ONE WORD AND/OR A NUMBER from the passage for each answer.

Katherine Mansfield’s adult years

1906: Returned from England back to New Zealand.

First paid writing work was in a publication based in 8. _______________.

Her 9. _______________ and the New Zealand way of life made her feel dissatisfied.

1908: Returned to London.

1911-1919: Met John Middleton Murry in 1911.

10. _______________ prevented Mansfield and Murry from staying together in Paris.

Spent time with distinguished 11. _______________.

From 1916, tuberculosis restricted the time she spent in London.

1920: Her 12. _______________ was consolidated when Bliss and Other Stories was published.

Wrote several stories at “Villa Isola Bella”.

1923-1924: Mansfield’s 13. _______________ published more of her works after her death.

Dịch nghĩa bài đọc hoàn chỉnh

[Đoạn A] Katherine Mansfield Beauchamp Murry sinh năm 1888 trong một gia đình danh giá tại Wellington, New Zealand. Cô trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của New Zealand dưới bút danh Katherine Mansfield. Là con gái của một ngân hàng gia và sinh ra trong một gia đình trung lưu, cô cũng là chị em họ đời đầu của Nữ bá tước Elizabeth von Arnim, một tiểu thuyết gia lỗi lạc thời bấy giờ. Mansfield có hai người chị gái và một em trai. Cha cô, ông Harold Beauchamp, sau này trở thành chủ tịch Ngân hàng New Zealand. Năm 1893, gia đình Mansfield chuyển đến Karori, một vùng ngoại ô của Wellington, nơi Mansfield trải qua những năm tháng tuổi thơ hạnh phúc nhất; sau này cô đã dùng những ký ức thời gian này làm nguồn cảm hứng cho truyện ngắn Prelude của mình.

[Đoạn B] Những truyện ngắn đầu tiên được xuất bản của cô xuất hiện trên tờ High School Reporter và tạp chí Trường Trung học Nữ sinh Wellington vào năm 1898 và 1899. Năm 1902, cô dành tình cảm sâu sắc cho Arnold Trowell, một nhạc sĩ chơi đàn cello, mặc dù tình cảm của cô phần lớn không được đáp lại. Bản thân Mansfield là một nghệ sĩ cello tài năng, từng theo học các tiết học từ cha của Trowell. Trong nhật ký của mình, Mansfield viết về cảm giác cô lập ở một mức độ nào đó tại New Zealand, cũng như mối quan tâm chung của cô dành cho người Maori (người bản địa của New Zealand) — những người thường được khắc họa dưới góc nhìn cảm thông, tích cực trong các câu chuyện sau này của cô, chẳng hạn như How Pearl Button Was Kidnapped.

[Đoạn C] Cô chuyển đến London vào năm 1903 để theo học tại Queen’s College cùng hai người chị gái. Mansfield bắt đầu chơi lại đàn cello, một ngành nghề mà trong thời gian ở Queen’s cô tin rằng mình sẽ theo đuổi chuyên nghiệp. Cô cũng bắt đầu đóng góp bài viết cho tờ báo của trường, với sự tận tụy lớn đến mức cuối cùng đã trở thành biên tập viên của tờ báo. Cô đặc biệt hứng thú với các tác phẩm của các nhà văn Pháp thời kỳ này và nhà văn Anh thế kỷ 19, Oscar Wilde, đồng thời cô được bạn bè tại Queen’s yêu mến bởi lối sống và làm việc sinh động, lôi cuốn. Tại trường, cô gặp Ida Baker, một đồng nghiệp người Nam Phi, và cả hai trở thành bạn thân suốt đời. Mansfield không tích cực ủng hộ phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ (suffragette) tại Anh. Phụ nữ ở New Zealand đã giành được quyền bầu cử từ năm 1893.

[Đoạn D] Mansfield lần đầu tiên bắt đầu các chuyến du ngoạn sang các phần khác của Châu Âu trong khoảng thời gian 1903-1906, chủ yếu đến Bỉ và Đức. Sau khi hoàn thành việc học ở Anh, cô trở về nhà ở New Zealand vào năm 1906, và chỉ khi đó mới bắt đầu viết truyện ngắn một cách nghiêm túc. Cô có một số tác phẩm được xuất bản tại Úc trên một tạp chí tên là Native Companion — đây là công việc viết lách có trả phí đầu tiên của cô, và vào thời điểm này cô đã hạ quyết tâm trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên cô sử dụng bút danh “K. Mansfield”.

[Đoạn E] Mansfield nhanh chóng cảm thấy bất mãn với lối sống tỉnh lẻ ở New Zealand và với chính gia đình mình. Hai năm sau, cô lại lên đường sang London. Cha cô gửi cho cô khoản trợ cấp hàng năm là 100 bảng Anh cho đến cuối đời. Trong những năm sau này, cô thể hiện cả sự ngưỡng mộ lẫn sự khinh miệt đối với New Zealand trong các cuốn nhật ký của mình.

[Đoạn F] Năm 1911, Mansfield gặp John Middleton Murry, một học giả Đại học Oxford và là biên tập viên của tạp chí văn học Rhythm. Sau này họ kết hôn vào năm 1918. Mansfield trở thành đồng biên tập của Rhythm (sau đó đổi tên thành The Blue Review), nơi nhiều tác phẩm của cô được xuất bản. Cô và Murry sống tại nhiều ngôi nhà ở Anh và một thời gian ngắn ở Paris. The Blue Review thất bại trong việc thu hút đủ người đọc và ngừng xuất bản. Việc họ cố gắng lập nghiệp nhà văn ở Paris bị gián đoạn do Murry bị phá sản — hậu quả từ sự thất bại của tạp chí này và các ấn phẩm khác. Cuộc sống trở lại Anh đồng nghĩa với việc thường xuyên thay đổi địa chỉ và nguồn tài chính vô cùng hạn hẹp.

[Đoạn G] Giữa năm 1915 và 1918, Mansfield di chuyển giữa Anh và Bandol, Pháp. Cô và Murry phát triển mối quan hệ thân thiết với các nhà văn nổi tiếng khác thời bấy giờ như D.H. Lawrence, Bertrand Russell và Aldous Huxley. Đến tháng 10 năm 1918, Mansfield bệnh nặng; cô được chẩn đoán mắc bệnh lao và được khuyên nên vào dưỡng đường. Cô không còn có thể dành thời gian với các nhà văn ở London. Mùa thu năm 1918, cô yếu đến mức quyết định đến Ospedale ở Ý. Chính việc xuất bản tập truyện Bliss and Other Stories vào năm 1920 đã củng cố vững chắc danh tiếng nhà văn của Mansfield.

[Đoạn H] Mansfield cũng dành thời gian ở Menton, Pháp, với tư cách là người thuê nhà của người anh họ của cha cô tại “Villa Isola Bella”. Tại đây, cô đã viết tác phẩm mà cô tuyên bố là “…câu chuyện duy nhất làm tôi thỏa mãn ở một mức độ nào đó”.

[Đoạn I] Mansfield đã sáng tác một khối lượng lớn tác phẩm trong những năm cuối đời, và nhiều văn xuôi cũng như thơ của cô vẫn chưa được xuất bản khi cô qua đời vào năm 1923. Sau khi cô mất, người chồng Murry đã đảm nhận nhiệm vụ biên tập và xuất bản các tác phẩm của cô. Những nỗ lực của ông đã mang lại hai tập truyện ngắn bổ sung, The Doves’ NestSomething Childish, xuất bản lần lượt vào năm 1923 và 1924, cùng ấn phẩm Poems, bộ sưu tập bài viết phê bình (Novels and Novelists) và nhiều bản phát hành thư từ, nhật ký chưa từng công bố trước đó của Mansfield.

Tổng hợp từ vựng học thuật trọng tâm của bài đọc

Từ vựng / Cụm từ Phân loại Nghĩa trong bài đọc
Prominent family Cụm danh từ Gia đình danh giá, có địa vị
Pen name / Pseudonym Danh từ Bút danh, tên giả khi viết sách
Accomplished cellist Cụm danh từ Nghệ sĩ cello tài năng, thành thạo
Sympathetic light Cụm danh từ Góc nhìn cảm thông, tích cực
Charismatic approach Cụm danh từ Phong thái lôi cuốn, cuốn hút
Suffragette movement Cụm danh từ Phong phong đòi quyền bầu cử cho phụ nữ
Discontented with Cụm tính từ Bất mãn, không hài lòng với
Solidify / Consolidate reputation Cụm động từ Củng cố vững chắc danh tiếng

Gợi ý đáp án bài đọc Katherine Mansfield

Questions 1-6: True / False / Not Given

1. Đáp án: FALSE

Phân tích: Đề bài khẳng định tên Katherine Mansfield xuất hiện trên sách giống hệt tên khai sinh của cô. Đối chiếu đoạn A: “Katherine Mansfield Beauchamp Murry was born in 1888… using the pen name of Katherine Mansfield.” Tên thật của cô có thêm họ Beauchamp Murry, còn Katherine Mansfield chỉ là bút danh (pen name). Khẳng định trái ngược, chọn FALSE.

2. Đáp án: NOT GIVEN

Phân tích: Đề bài nói Mansfield đã giành được giải thưởng cho một câu chuyện cô viết cho tờ High School Reporter. Đối chiếu đoạn B: “Her first published stories appeared in the High School Reporter and the Wellington Girls’ High School magazine in 1898 and 1899.” Bài đọc chỉ đề cập truyện của cô được đăng báo, hoàn toàn không có thông tin về việc trúng giải thưởng (won a prize). Chọn NOT GIVEN.

3. Đáp án: TRUE

Phân tích: Đề bài nói tác phẩm How Pearl Button Was Kidnapped khắc họa người Maori theo hướng tích cực/có thiện cảm. Đối chiếu đoạn B: “…her interest in the Maori people… who were often portrayed in a sympathetic light in her later stories, such as How Pearl Button Was Kidnapped.” Cụm từ in a sympathetic light đồng nghĩa với in a favorable way. Khẳng định đúng, chọn TRUE.

4. Đáp án: FALSE

Phân tích: Đề bài nói khi ở Queen’s College, cô dự định trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Đối chiếu đoạn C: “Mansfield recommenced playing the cello, an occupation that she believed… she would take up professionally.” Khi học tại Queen’s College, nghề nghiệp cô dự định theo đuổi chuyên nghiệp là chơi đàn cello (cellist), đến năm 1906 cô mới quyết định trở thành nhà văn chuyên nghiệp (đoạn D). Khẳng định sai, chọn FALSE.

5. Đáp án: FALSE

Phân tích: Đề bài nói Mansfield không được các sinh viên khác yêu mến tại Queen’s College. Đối chiếu cuối đoạn C: “…she was appreciated amongst fellow students at Queen’s for her lively and charismatic approach to life and work.” Từ appreciated (được coi trọng/yêu mến) phủ định hoàn toàn từ unpopular. Chọn FALSE.

6. Đáp án: TRUE

Phân tích: Đề bài nói ở London, Mansfield thể hiện ít sự quan tâm đến chính trị. Đối chiếu đoạn C: “Mansfield did not actively support the suffragette movement in the UK.” Việc không tích cực ủng hộ phong trào đòi quyền bầu cử (một phong trào chính trị lớn thời đó) chứng minh cô ít quan tâm chính trị. Chọn TRUE.

Questions 7-13: Note Completion

7. Đáp án: 1906

Phân tích: Tìm mốc năm cô hoàn thành học tập ở Anh và trở về New Zealand. Đối chiếu đoạn D: “After finishing her schooling in England, she returned to her New Zealand home in 1906…”

8. Đáp án: Australia

Phân tích: Tìm quốc gia đặt trụ sở của ấn phẩm trả phí đầu tiên cho bài viết của cô. Đối chiếu đoạn D: “She had several works published in Australia in a magazine called Native Companion, which was her first paid writing work…”

9. Đáp án: family

Phân tích: Tìm yếu tố cùng với lối sống New Zealand khiến cô bất mãn. Đối chiếu đoạn E: “Mansfield rapidly grew discontented with the provincial New Zealand lifestyle, and with her family.”

10. Đáp án: Bankruptcy

Phân tích: Tìm sự kiện/nguyên nhân cản trở cô và Murry tiếp tục sống cùng nhau ở Paris. Đối chiếu đoạn F: “Their attempt to set up as writers in Paris was cut short by Murry’s bankruptcy…”

11. Đáp án: writers

Phân tích: Tìm nhóm người nổi tiếng mà cô và Murry dành thời gian giao thiệp từ 1916. Đối chiếu đoạn G: “She and Murry developed close contact with other well-known writers of the time such as D.H. Lawrence…”

12. Đáp án: reputation

Phân tích: Tìm danh từ được củng cố khi tập truyện Bliss and Other Stories xuất bản năm 1920. Đối chiếu đoạn G: “It was the publication of Bliss and Other Stories in 1920 that was to solidify Mansfield’s reputation as a writer.” Từ solidify đồng nghĩa với consolidate.

13. Đáp án: husband

Phân tích: Tìm danh từ chỉ người đã xuất bản thêm các tác phẩm của cô sau khi cô qua đời. Đối chiếu đoạn I: “After her death, her husband, Murry, took on the task of editing and publishing her works.”

Tóm lại, bài đọc Katherine Mansfield là một bức tranh tiểu sử phong phú, phản ánh trọn vẹn những thăng trầm trong đời sống cá nhân lẫn hành trình nghệ thuật của một nữ văn sĩ hiện đại kiệt xuất. Qua việc theo dõi tiến trình lịch sử và các mốc sự kiện quan trọng trong bài, người học không chỉ nâng cao vốn từ vựng học thuật thuộc chủ đề văn học – Biển niên sử, mà còn rèn luyện được tư duy đối soát thông tin vô cùng nhạy bén.

Để làm tốt các dạng bài tiểu sử tương tự trong kỳ thi IELTS Reading, chìa khóa cốt lõi nằm ở việc giữ sự tỉnh táo trước các chi tiết đối lập và nhận diện linh hoạt các cụm từ đồng nghĩa (synonyms). Hy vọng phần phân tích bài đọc toàn diện và gợi ý đáp án do trung tâm ngoại ngữ ECE tổng hợp sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, giúp bạn củng cố kỹ năng làm bài và từng bước chinh phục band điểm mục tiêu!

Chia sẻ:

Xem thêm Thư viện IELTS

Bình luận & Hỏi đáp

Chưa có bình luận nào!