Giải mã bài đọc IELTS Reading: What cookbooks really teach us
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Giải mã bài đọc IELTS Reading: What cookbooks really teach us
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Bạn có bao giờ thắc mắc tại sao những cuốn sách dạy nấu ăn lại chiếm một diện tích đồ sộ trên các kệ sách đến vậy? Bài đọc IELTS Reading “What cookbooks really teach us” sẽ mang đến một góc nhìn đầy bất ngờ: sách nấu ăn không chỉ đơn thuần dạy ta cách nêm nếm gia vị, mà còn là những cỗ máy thời gian lưu giữ văn hóa, lịch sử và khát vọng của nhân loại. Dưới đây là trọn bộ tài liệu chi tiết bao gồm văn bản gốc, bản dịch, phân tích từ vựng và giải thích đáp án giúp bạn chinh phục trọn vẹn chủ đề thú vị này!
Thông tin bài đọc & Câu hỏi
Bài đọc: WHAT COOKBOOKS REALLY TEACH US
A Shelves bend under their weight of cookery books. Even a medium-sized bookshop contains many more recipes than one person could hope to cook in a lifetime. Although the recipes in one book are often similar to those in another, their presentation varies wildly, from an array of vegetarian cookbooks to instructions on cooking the food that historical figures might have eaten. The reason for this abundance is that cookbooks promise to bring about a kind of domestic transformation for the user. The daily routine can be put on one side and they liberate the user, if only temporarily. To follow their instructions is to turn a task which has to be performed every day into an engaging, romantic process. Cookbooks also provide an opportunity to delve into distant cultures without having to turn up at an airport to get there.
B The first Western cookbook appeared just over 1,600 years ago. De re coquinaria (it means ‘concerning cookery’) is attributed to a Roman gourmet named Apicius. It is probably a compilation of Roman and Greek recipes, some or all of them drawn from manuscripts that were later lost. The editor was sloppy, allowing several duplicated recipes to sneak in. Yet Apicius’s book set the tone of cookery advice in Europe for more than a thousand years. As a cookbook it is unsatisfactory with very basic instructions. Joseph Vehling, a chef who translated Apicius in the 1930s, suggested the author had been obscure on purpose, in case his secrets leaked out.
C But a more likely reason is that Apicius’s recipes were written by and for professional cooks, who could follow their shorthand. This situation continued for hundreds of years. There was no order to cookbooks: a cake recipe might be followed by a mutton one. But then, they were not written for careful study. Before the 19th century few educated people cooked for themselves. The wealthiest employed literate chefs; others presumably read recipes to their servants. Such cooks would have been capable of creating dishes from the vaguest of instructions.
D The invention of printing might have been expected to lead to greater clarity but at first the reverse was true. As words acquired commercial value, plagiarism exploded. Recipes were distorted through reproduction. A recipe for boiled capon in The Good Huswives Jewell, printed in 1596, advised the cook to add three or four dates. By 1653, when the recipe was given by a different author in A Book of Fruits & Flowers, the cook was told to set the dish aside for three or four days.
E The dominant theme in 16th and 17th century cookbooks was order. Books combined recipes and household advice, on the assumption that a well-made dish, a well-ordered larder and well-disciplined children were equally important. Cookbooks thus became a symbol of dependability in chaotic times. They hardly seem to have been affected by the English civil war or the revolutions in America and France.
F In the 1850s, Isabella Beeton published the Book of Household Management. Like earlier cookery writers she plagiarized freely, lifting not just recipes but philosophical observations from other books. If Beeton’s recipes were not wholly new, though, the way in which she presented them certainly was. She explains when the chief ingredients are most likely to be in season, how long the dish will take to prepare and even how much it is likely to cost. Beeton’s recipes were well suited to her times. Two centuries earlier, an understanding of rural ways had been so widespread that one writer could advise cooks to heat water until it was a little hotter than milk comes from a cow. By the 1850s Britain was industrializing. The growing urban middle class needed details, and Beeton provided them in full.
G In France, cookbooks were fast becoming even more systematic. Compared with Britain, France had produced few books written for the ordinary householder by the end of the 19th century. The most celebrated French cookbooks were written by superstar chefs who had a clear sense of codifying a unified approach to sophisticated French cooking. The 5,000 recipes in Auguste Escoffier’s Le Guide Culinaire (The Culinary Guide), published in 1902, might as well have been written in stone, given the book’s reputation among French chefs, many of whom still consider it the definitive reference book.
H What Escoffier did for French cooking, Fannie Farmer did for American home cooking. She not only synthesized American cuisine; she elevated it to the status of science. ‘Progress in civilization has been accompanied by progress in cookery,’ she breezily announced in The Boston Cooking-School Cook Book, before launching into a collection of recipes that sometimes resembles a book of chemistry experiments. She was occasionally over-fussy. She explained that currants should be picked between June 28th and July 3rd, but not when it is raining. But in the main her book is reassuringly authoritative. Its recipes are short, with no unnecessary chat and no unnecessary spices.
I In 1950, Mediterranean Food by Elizabeth David launched a revolution in cooking advice in Britain. In some ways Mediterranean Food recalled even older cookbooks but the smells and noises that filled David’s books were not mere decoration for her recipes. They were the point of her books. When she began to write, many ingredients were not widely available or affordable. She understood this, acknowledging in a later edition of one of her books that even if people could not very often make the dishes here described, it was stimulating to think about them. David’s books were not so much cooking manuals as guides to the kind of food people might well wish to eat.
Questions
Questions 14 – 16 Complete the summary below. Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer. Write your answers in boxes 14-16 on your answer sheet.
Why are there so many cookery books? There are a great number more cookery books published than is really necessary and it is their 14……………… which makes them differ from each other. There are such large numbers because they offer people an escape from their 15……………… and some give the user the chance to inform themselves about other 16……………… .
Questions 17 – 21 Reading Passage has nine paragraphs, A-I. Which paragraph contains the following information?
Write the correct letter, A-I in boxes 17-21 on your answer sheet.
NB: YOU MAY USE ANY LETTER MORE THAN ONCE.
17. cookery books providing a sense of stability during periods of unrest
18. details in recipes being altered as they were passed on
19. knowledge which was in danger of disappearing
20. the negative effect on cookery books of a new development
21. a period when there was no need for cookery books to be precise
Questions 22 – 26 Look at the following statements (Questions 22-26) and list of books (A-E) below. Match each statement with the correct book. Write the correct letter, A-E, in boxes 22-26 on your answer sheet.
List of cookery books
A. De re coquinaria
B. The Book of Household Management
C. Le Guide Culinaire
D. The Boston Cooking-School Cook Book
E. Mediterranean Food
22. Its recipes were easy to follow despite the writer’s attention to detail.
23. Its writer may have deliberately avoided passing on details.
24. It appealed to ambitious ideas people have about cooking.
25. Its writer used ideas from other books but added additional related information.
26. It put into print ideas which are still respected today.
Dịch nghĩa bài đọc chi tiết
Sách dạy nấu ăn thực sự dạy chúng ta điều gì
A. Các kệ sách oằn mình dưới sức nặng của những cuốn sách dạy nấu ăn. Ngay cả một hiệu sách cỡ trung bình cũng chứa nhiều công thức nấu ăn hơn mức một người có thể hy vọng sẽ nấu trong suốt cuộc đời. Mặc dù các công thức trong một cuốn sách thường tương tự như trong những cuốn khác, nhưng cách trình bày của chúng lại thay đổi rất đa dạng, từ một loạt các cuốn sách dạy nấu ăn chay cho đến hướng dẫn cách nấu những món ăn mà các nhân vật lịch sử có thể đã từng thưởng thức. Lý do cho sự phong phú này là vì sách dạy nấu ăn hứa hẹn mang lại một kiểu biến đổi cuộc sống gia đình cho người dùng. Những thói quen hằng ngày có thể được gác sang một bên và những cuốn sách này sẽ giải phóng người dùng, dù chỉ là tạm thời. Việc làm theo những hướng dẫn của chúng chính là biến một công việc bắt buộc phải làm mỗi ngày thành một quá trình lãng mạn và đầy lôi cuốn. Sách nấu ăn cũng cung cấp cơ hội để đi sâu tìm hiểu về những nền văn hóa xa xôi mà không cần phải có mặt ở sân bay để đến đó.
B. Cuốn sách dạy nấu ăn đầu tiên của phương Tây xuất hiện cách đây hơn 1600 năm. De re coquinaria (có nghĩa là ‘liên quan đến nghệ thuật nấu nướng’) được cho là của một người sành ăn La Mã tên là Apicius. Đây có lẽ là một bản biên soạn các công thức nấu ăn của người La Mã và Hy Lạp, một số hoặc tất cả được rút ra từ các bản thảo đã bị thất lạc sau đó. Người biên tập đã rất cẩu thả, cho phép một vài công thức bị lặp lại len lỏi vào. Thế nhưng, cuốn sách của Apicius đã định hình phong cách cho những lời khuyên nấu nướng ở châu Âu trong hơn một nghìn năm. Với tư cách là một cuốn sách nấu ăn, nó không thỏa đáng vì các hướng dẫn chỉ ở mức quá cơ bản. Joseph Vehling, một đầu bếp đã dịch cuốn Apicius vào những năm 1930, cho rằng tác giả có thể đã cố tình viết một cách khó hiểu để đề phòng bí mật của mình bị lộ ra ngoài.
C. Nhưng một lý do có khả năng cao hơn là các công thức của Apicius được viết bởi và dành cho những đầu bếp chuyên nghiệp, những người có thể hiểu được cách viết tắt của họ. Tình trạng này tiếp diễn trong hàng trăm năm. Không hề có thứ tự nào trong các cuốn sách nấu ăn: một công thức làm bánh ngọt có thể xuất hiện ngay sau công thức làm thịt cừu. Nhưng vào thời điểm đó, chúng không được viết ra để người ta nghiên cứu cẩn thận. Trước thế kỷ 19, rất ít người có học thức tự nấu ăn cho mình. Những người giàu có nhất thuê các đầu bếp biết chữ; những người khác thì có lẽ sẽ đọc công thức cho người hầu của họ nghe. Những đầu bếp như vậy hoàn toàn có khả năng tạo ra các món ăn từ những lời hướng dẫn mơ hồ nhất.
D. Việc phát minh ra ngành in ấn lẽ ra được kỳ vọng sẽ dẫn đến sự rõ ràng hơn, nhưng ban đầu điều ngược lại mới là sự thật. Khi ngôn từ bắt đầu có giá trị thương mại, tình trạng đạo văn bùng nổ. Các công thức nấu ăn bị bóp méo qua quá trình sao chép. Một công thức dạy luộc gà trống thiến trong cuốn The Good Huswives Jewell, in năm 1596, khuyên đầu bếp nên thêm vào ba hoặc bốn quả chà là (dates). Đến năm 1653, khi công thức này được đưa ra bởi một tác giả khác trong cuốn A Book of Fruits & Flowers, người đầu bếp lại được hướng dẫn là hãy để món ăn sang một bên trong ba hoặc bốn ngày (days).
E. Chủ đề thống trị trong các cuốn sách nấu ăn ở thế kỷ 16 và 17 là sự trật tự. Sách kết hợp giữa công thức nấu ăn và lời khuyên việc nhà, dựa trên giả định rằng một món ăn ngon, một tủ đựng thức ăn ngăn nắp và những đứa trẻ kỷ luật đều quan trọng như nhau. Do đó, sách nấu ăn đã trở thành biểu tượng của sự đáng tin cậy trong những thời kỳ hỗn loạn. Chúng dường như hầu như không bị ảnh hưởng bởi cuộc nội chiến ở Anh hay các cuộc cách mạng ở Mỹ và Pháp.
F. Vào những năm 1850, Isabella Beeton xuất bản cuốn Book of Household Management. Giống như những người viết sách nấu ăn trước đó, bà đạo văn một cách tự do, lấy đi không chỉ các công thức mà cả những quan sát mang tính triết học từ các cuốn sách khác. Tuy nhiên, nếu các công thức của Beeton không hoàn toàn mới thì cách bà trình bày chúng chắc chắn là mới. Bà giải thích thời điểm nào các nguyên liệu chính dễ vào mùa nhất, mất bao lâu để chuẩn bị món ăn và thậm chí là chi phí có thể hết bao nhiêu. Công thức của Beeton rất phù hợp với thời đại của bà. Hai thế kỷ trước đó, sự hiểu biết về lối sống nông thôn phổ biến đến mức một tác giả có thể khuyên các đầu bếp đun nước cho đến khi nó nóng hơn một chút so với sữa mới vắt từ bò ra. Nhưng đến những năm 1850, nước Anh đang công nghiệp hóa. Tầng lớp trung lưu thành thị ngày càng tăng cần các chi tiết rõ ràng, và Beeton đã cung cấp chúng một cách trọn vẹn.
G. Tại Pháp, sách nấu ăn thậm chí còn nhanh chóng trở nên có hệ thống hơn. So với Anh, Pháp sản xuất rất ít sách viết cho những người nội trợ bình thường tính đến cuối thế kỷ 19. Những cuốn sách nấu ăn nổi tiếng nhất của Pháp được viết bởi các siêu đầu bếp, những người có ý thức rõ ràng về việc hệ thống hóa một phương pháp tiếp cận thống nhất cho nền ẩm thực Pháp tinh tế. 5.000 công thức nấu ăn trong cuốn Le Guide Culinaire (Hướng dẫn Ẩm thực) của Auguste Escoffier xuất bản năm 1902, dường như đã được khắc vào đá, xét về danh tiếng của cuốn sách trong giới đầu bếp Pháp, nhiều người trong số họ vẫn coi đây là cuốn cẩm nang tham khảo chuẩn mực nhất.
H. Những gì Escoffier làm cho ẩm thực Pháp, thì Fannie Farmer làm cho ẩm thực gia đình ở Mỹ. Bà không chỉ tổng hợp nền ẩm thực Mỹ; bà còn nâng nó lên tầm khoa học. ‘Sự tiến bộ của nền văn minh luôn đi kèm với sự tiến bộ trong nghệ thuật nấu ăn,’ bà dõng dạc tuyên bố trong cuốn The Boston Cooking-School Cook Book, trước khi bắt tay vào bộ sưu tập các công thức đôi khi trông giống như một cuốn sách thí nghiệm hóa học. Thỉnh thoảng bà có phần quá cầu kỳ. Bà giải thích rằng quả lý chua nên được hái trong khoảng thời gian từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7, nhưng không hái khi trời đang mưa. Nhưng nhìn chung, cuốn sách của bà mang tính uy tín một cách đáng tin cậy. Các công thức nấu ăn của nó rất ngắn gọn, không có những lời lẽ thừa thãi và không có những gia vị không cần thiết.
I. Năm 1950, cuốn Mediterranean Food của Elizabeth David đã phát động một cuộc cách mạng về các lời khuyên nấu nướng ở Anh. Theo một khía cạnh nào đó, Mediterranean Food gợi nhớ đến những cuốn sách nấu ăn thậm chí còn cổ xưa hơn, nhưng những mùi vị và âm thanh ngập tràn trong sách của David không chỉ là vật trang trí đơn thuần cho công thức của bà. Đó mới là điểm cốt lõi trong sách của bà. Khi bà bắt đầu viết, nhiều nguyên liệu không có sẵn rộng rãi hoặc có giá cả phải chăng. Bà hiểu điều này, và thừa nhận trong lần tái bản sau của một trong những cuốn sách của mình rằng, ngay cả khi mọi người không thể thường xuyên làm những món ăn được mô tả ở đây, thì việc nghĩ về chúng cũng mang lại sự kích thích. Sách của David không hẳn là sách hướng dẫn nấu ăn, mà giống như những cuốn cẩm nang chỉ dẫn về các loại thực phẩm mà mọi người khao khát muốn ăn.
Tổng hợp từ vựng quan trọng trong bài đọc
-
Abundance (n): Sự phong phú, dư dật.
-
Liberate (v): Giải phóng, làm cho tự do.
-
Delve into (v): Đi sâu vào, đào sâu nghiên cứu.
-
Compilation (n): Sự biên soạn, bộ sưu tập.
-
Sloppy (adj): Cẩu thả, luộm thuộm.
-
Plagiarism (n): Sự đạo văn.
-
Dependability (n): Sự đáng tin cậy.
-
Codify (v): Hệ thống hóa.
-
Definitive (adj): Cuối cùng, dứt khoát, mang tính chuẩn mực/thẩm quyền nhất.
-
Authoritative (adj): Có uy quyền, đáng tin cậy.
Đáp án bài đọc và Giải thích chi tiết
14. presentation
Câu hỏi: Có vô số sách nấu ăn được xuất bản hơn mức cần thiết và chính ______ của chúng làm chúng khác biệt với nhau.
Giải thích: Đoạn A nêu: “Although the recipes in one book are often similar to those in another, their presentation varies wildly…” (Mặc dù công thức thường giống nhau, nhưng cách trình bày lại khác biệt rõ rệt). Do đó, điểm khác biệt giữa chúng chính là “presentation” (cách trình bày).
15. daily routine (hoặc routine)
Câu hỏi: …vì chúng mang đến cho mọi người một lối thoát khỏi ______ của họ.
Giải thích: Đoạn A tiếp tục: “The daily routine can be put on one side and they liberate the user…” (Thói quen hằng ngày có thể được gạt sang một bên và giải phóng người dùng). “Escape from” đồng nghĩa với việc gạt bỏ và giải phóng khỏi “daily routine”.
16. cultures
Câu hỏi: …cho phép người dùng tự tìm hiểu về những ______ khác.
Giải thích: Câu cuối đoạn A: “Cookbooks also provide an opportunity to delve into distant cultures…” (Sách nấu ăn cũng cung cấp cơ hội để đi sâu tìm hiểu về những nền văn hóa xa xôi).
17. E
Nội dung: Sách nấu ăn mang lại cảm giác ổn định trong những thời kỳ bất ổn.
Giải thích: Đoạn E chỉ ra: “Cookbooks thus became a symbol of dependability in chaotic times.” (Do đó, sách nấu ăn trở thành biểu tượng của sự đáng tin cậy trong những thời kỳ hỗn loạn/bất ổn). “Stability” khớp với “dependability”, và “unrest” khớp với “chaotic times”.
18. D
Nội dung: Các chi tiết trong công thức bị thay đổi khi chúng được truyền lại.
Giải thích: Đoạn D đưa ra ví dụ rất hài hước về việc công thức gốc yêu cầu thêm “quả chà là” (dates) nhưng qua thời gian bị sao chép/in lại đã biến thành để món ăn sang một bên trong vài “ngày” (days). “Recipes were distorted through reproduction” chính là việc các chi tiết bị thay đổi.
19. F
Nội dung: Những kiến thức đang có nguy cơ biến mất.
Giải thích: Đoạn F nhắc đến việc trước đây lối sống nông thôn phổ biến (dùng tay cảm nhận nhiệt độ nước so với sữa bò). Nhưng khi nước Anh công nghiệp hóa, tầng lớp trung lưu thành thị gia tăng, họ không còn những kiến thức tự nhiên này nữa (“knowledge in danger of disappearing”) nên họ cần các chi tiết rõ ràng hơn.
20. D
Nội dung: Tác động tiêu cực đối với sách nấu ăn do một sự phát triển mới.
Giải thích: Sự phát triển mới ở đây là “The invention of printing” (sự ra đời của ngành in). Tác động tiêu cực của nó là việc “plagiarism exploded” (đạo văn bùng nổ) và “recipes were distorted” (công thức bị bóp méo).
21. C
Nội dung: Một khoảng thời gian không cần sách nấu ăn phải chính xác.
Giải thích: Đoạn C miêu tả giai đoạn mà người nấu là các đầu bếp chuyên nghiệp, và họ hoàn toàn có khả năng tạo ra các món ăn từ “the vaguest of instructions” (những lời hướng dẫn mơ hồ nhất). Do đó, sách không cần viết chi tiết.
22. D (The Boston Cooking-School Cook Book)
Nội dung: Các công thức của nó rất dễ làm theo mặc dù tác giả chú ý nhiều đến tiểu tiết.
Giải thích: Đoạn H nói về cuốn sách của Fannie Farmer. Tác giả bị nhận xét là quá cầu kỳ/chú ý đến tiểu tiết (over-fussy – ví dụ như ngày hái trái cây), nhưng bù lại, “Its recipes are short, with no unnecessary chat…”. Công thức ngắn gọn và không thừa thãi tức là dễ làm theo.
23. A (De re coquinaria)
Nội dung: Tác giả của nó có thể đã cố tình tránh việc truyền đạt chi tiết.
Giải thích: Cuối đoạn B, một đầu bếp đã gợi ý rằng tác giả của De re coquinaria (Apicius) “had been obscure on purpose, in case his secrets leaked out” (có thể đã cố tình làm cho khó hiểu/mơ hồ để tránh lộ bí mật).
24. E (Mediterranean Food)
Nội dung: Nó hấp dẫn những tham vọng/ý tưởng đầy hoài bão mà mọi người dành cho việc nấu nướng.
Giải thích: Đoạn I miêu tả cuốn sách của Elizabeth David, cho dù nguyên liệu đắt đỏ và khó kiếm, “even if people could not very often make the dishes… it was stimulating to think about them” (dù không làm được thì chỉ cần nghĩ đến món ăn cũng thấy phấn khích). Cuốn sách giống như một chỉ dẫn cho những thứ mà người ta “wish to eat” (khao khát muốn ăn).
25. B (The Book of Household Management)
Nội dung: Tác giả của nó đã sử dụng ý tưởng từ những cuốn sách khác nhưng thêm vào những thông tin liên quan.
Giải thích: Đoạn F viết về Isabella Beeton: bà ấy “plagiarized freely” (đạo văn tự do – lấy ý tưởng sách khác), nhưng điểm mới là bà thêm thông tin về thời vụ của nguyên liệu, thời gian nấu và chi phí nấu (added additional related information).
26. C (Le Guide Culinaire)
Nội dung: Nó đã in những ý tưởng mà đến nay vẫn còn được tôn trọng.
Giải thích: Đoạn G miêu tả cuốn sách của Escoffier được nhiều đầu bếp Pháp đến tận bây giờ vẫn coi là “the definitive reference book” (cuốn sách tham khảo chuẩn mực nhất – still respected today).
Bài đọc “What cookbooks really teach us” không chỉ giúp mở rộng vốn từ vựng học thuật mà còn mang đến góc nhìn văn hóa – lịch sử đầy thú vị. Việc thường xuyên luyện dịch và Paraphrase qua từng câu hỏi chính là chìa khóa để bạn tăng tốc độ làm bài.
Đoàn Nương
Tôi là Đoàn Nương - Giám đốc trung tâm ngoại ngữ ECE. Tôi hiện đang là giảng viên của khoa ngôn ngữ các nước nói tiếng Anh - Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tôi đã có 19 năm kinh nghiệm giảng dạy IELTS và 15 năm là giảng viên Đại Học. Tôi mong muốn đưa ECE trở thành trung tâm ngoại ngữ cho tất cả mọi người, mang tới cho học viên môi trường học tập tiếng Anh chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tìm hiểu các khóa học tại ECE
Tin Tức Cùng Danh Mục
Giải mã bài đọc: Complementary & alternative medicine IELTS Reading
Stadium Australia IELTS Reading: Giải chi tiết & Dịch nghĩa
Father of Modern Management IELTS Reading: Dịch chuẩn & Giải
Satellite Technology IELTS Reading – Bài đọc IELTS về công nghệ vệ tinh

