A song on the brain IELTS Reading: Giải chi tiết & Dịch chuẩn
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
A song on the brain IELTS Reading: Giải chi tiết & Dịch chuẩn
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Đã bao giờ bạn bị “ám ảnh” bởi một đoạn nhạc pop lặp đi lặp lại trong đầu suốt cả ngày dài mà không có cách nào dứt ra được? Hiện tượng tâm lý quen thuộc nhưng lại vô cùng rắc rối này chính là chủ đề cực kỳ thú vị của bài đọc “A song on the brain”. Khác với những bài đọc học thuật khô khan, bài viết này mang đến cái nhìn thực tế về cách não bộ chúng ta vận hành. Các bạn hãy cùng ECE phân tích bài đọc và giải mã các câu hỏi nhé.
Thông tin bài đọc & câu hỏi
Bài đọc: A SONG ON THE BRAIN
Some songs just won’t leave you alone. But this may give us clues about how our brain works.
A Everyone knows the situation where you can’t get a song out of your head. You hear a pop song on the radio – or even just read the song’s title and it haunts you for hours, playing over and over in your mind until you’re heartily sick of it. The condition now even has a medical name ‘song-in-head syndrome’.
B But why does the mind annoy us like this? No one knows for sure, but it’s probably because the brain is better at holding onto information than it is at knowing what information is important. Roger Chaffin, a psychologist at the University of Connecticut says, ‘It’s a manifestation of an aspect of memory which is normally an asset to us, but in this instance, it can be a nuisance.’
C This eager acquisitiveness of the brain may have helped our ancestors remember important information in the past. Today, students use it to learn new material, and musicians rely on it to memorise complicated pieces. But when this useful function goes awry it can get you stuck on a tune. Unfortunately, superficial, repetitive pop tunes are, by their very nature, more likely to stick than something more inventive.
D The annoying playback probably originates in the auditory cortex. Located at the front of the brain, this region handles both listening and playback of music and other sounds. Neuroscientist Robert Zatorre of McGill University in Montreal proved this some years ago when he asked volunteers to replay the theme from the TV show Dallas in their heads. Brain imaging studies showed that this activated the same region of the auditory cortex as when the people actually heard the song.
E Not every stored musical memory emerges into consciousness, however. The frontal lobe of the brain gets to decide which thoughts become conscious and which ones are simply stored away. But it can become fatigued or depressed, which is when people most commonly suffer from song-in-head syndrome and other intrusive thoughts, says Susan Ball, a clinical psychologist at Indiana University School of Medicine in Indianapolis. And once the unwanted song surfaces, it’s hard to stuff it back down into the subconscious. ‘The more you try to suppress a thought, the more you get it,’ says Ball. ‘We call this the pink elephant phenomenon. Tell the brain not to think about pink elephants, and it’s guaranteed to do so,’ she says.
F For those not severely afflicted, simply avoiding certain kinds of music can help. ‘I know certain pieces that are kind of “sticky” to me, so I will not play them in the early morning for fear that they will run around in my head all day,’ says Steven Brown, who trained as a classical pianist but is now a neuroscientist at the University of Texas Health Science Center at San Antonio. He says he always has a song in his head and, even more annoying, his mind never seems to make it all the way through. ‘It tends to involve short fragments between, say, 5 or 15 seconds. They seem to get looped, for hours sometimes,’ he says.
G Brown’s experience of repeated musical loops may represent a phenomenon called ‘chunking’, in which people remember musical phrases as a single unit of memory, says Caroline Palmer, a psychologist at Ohio State University in Columbus. Most listeners have little choice about what chunks they remember. Particular chunks may be especially ‘sticky’ if you hear them often or if they follow certain predictable patterns, such as the chord progression of rock ‘n’ roll music. Palmer’s research shows that the more a piece of music conforms to these patterns, the easier it is to remember. That’s why you’re more likely to be haunted by the tunes of pop music than by those of a classical composer such as J. S. Bach.
H But this ability can be used for good as well as annoyance. Teachers can tap into memory reinforcement by setting their lessons to music. For example, in one experiment students who heard a history text set as the lyrics to a catchy song remembered the words better than those who simply read them, says Sandra Calvert, a psychologist at Georgetown University in Washington DC.
I This sort of memory enhancement may even explain the origin of music. Before the written word could be used to record history, people memorised it in songs, says Leon James, a psychologist at the University of Hawaii. And music may have had an even more important role. ‘All music has a message.’ he says. ‘This message functions to unite society and to standardise the thought processes of people in society.’
Questions
Questions 1-3 Choose the correct answer, A, B, C or D. Write your answers in boxes 1-3 on your answer sheet.
1. The writer says that ‘song-in-head syndrome’ may occur because the brain
A. confuses two different types of memory.
B. cannot decide what information it needs to retain.
C. has been damaged by harmful input.
D. cannot hold onto all the information it processes.
2. A tune is more likely to stay in your head if
A. it is simple and unoriginal.
B. you have musical training.
C. it is part of your culture.
D. you have a good memory.
3. Robert Zatorre found that a part of the auditory cortex was activated when volunteers
A. listened to certain types of music.
B. learned to play a tune on an instrument.
C. replayed a piece of music after several years.
D. remembered a tune they had heard previously.
Questions 4-7 Look at the following theories (Questions 4-7) and the list of people below. Match each theory with the person it is credited to. Write the correct letter A-F in boxes 4-7.
4. The memorable nature of some tunes can help other learning processes.
5. Music may not always be stored in the memory in the form of separate notes.
6. People may have started to make music because of their need to remember things.
7. Having a song going round your head may happen to you more often when one part of the brain is tired.
List of people
A. Roger Chaffin
B. Susan Ball
C. Steven Brown
D. Caroline Palmer
E. Sandra Calvert
F. Leon James
Questions 8-13 Reading Passage has nine paragraphs labelled A-I. Which paragraph contains the following information? Write the correct letter A-I in boxes 8-13.
NB. You may use any letter more than once.
8. a claim that music strengthens social bonds
9. two reasons why some bits of music tend to stick in your mind more than others
10. an example of how the brain may respond in opposition to your wishes
11. the name of the part of the brain where song-in-head syndrome begins
12. examples of two everyday events that can set off song-in-head syndrome
13. a description of what one person does to prevent song-in-head syndrome
Dịch nghĩa bài đọc chi tiết
MỘT BÀI HÁT TRONG ĐẦU
Một vài bài hát không chịu để bạn yên. Nhưng điều này có thể cung cấp cho chúng ta những manh mối về cách bộ não hoạt động.
A. Ai cũng biết về tình huống mà bạn không thể tống một bài hát ra khỏi đầu mình. Bạn nghe một bản nhạc pop trên đài radio – hoặc thậm chí chỉ cần đọc tựa đề của bài hát và nó ám ảnh bạn trong nhiều giờ, phát đi phát lại trong tâm trí cho đến khi bạn thực sự phát ngán vì nó. Tình trạng này hiện nay thậm chí còn có một tên gọi y học là ‘hội chứng bài hát trong đầu’ (song-in-head syndrome).
B. Nhưng tại sao tâm trí lại làm phiền chúng ta như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng có lẽ là do bộ não giỏi trong việc giữ lại thông tin hơn là việc nhận biết xem thông tin nào mới thực sự quan trọng. Roger Chaffin, một nhà tâm lý học tại Đại học Connecticut, nói rằng: “Đó là biểu hiện của một khía cạnh của trí nhớ, thứ bình thường là một tài sản quý giá đối với chúng ta, nhưng trong trường hợp này, nó có thể là một sự phiền toái.”
C. Khả năng tiếp thu hăng hái này của não có thể đã giúp tổ tiên chúng ta ghi nhớ những thông tin quan trọng trong quá khứ. Ngày nay, sinh viên sử dụng nó để học tài liệu mới và các nhạc sĩ dựa vào nó để ghi nhớ những bản nhạc phức tạp. Nhưng khi chức năng hữu ích này đi chệch hướng, nó có thể khiến bạn mắc kẹt với một giai điệu. Thật không may, những giai điệu pop hời hợt, lặp đi lặp lại, theo chính bản chất của chúng, có nhiều khả năng sẽ “bám dính” lại hơn là những thứ mang tính sáng tạo hơn.
D. Quá trình phát lại đầy khó chịu này có thể bắt nguồn từ vỏ não thính giác (auditory cortex). Nằm ở phía trước của não, vùng này xử lý cả việc lắng nghe và phát lại âm nhạc cũng như các âm thanh khác. Nhà khoa học thần kinh Robert Zatorre của Đại học McGill ở Montreal đã chứng minh điều này vài năm trước khi ông yêu cầu các tình nguyện viên phát lại bài hát chủ đề của chương trình truyền hình Dallas trong đầu họ. Các nghiên cứu hình ảnh não bộ cho thấy điều này đã kích hoạt cùng một vùng của vỏ não thính giác giống hệt như khi mọi người thực sự nghe thấy bài hát đó.
E. Tuy nhiên, không phải mọi ký ức âm nhạc được lưu trữ đều xuất hiện trong ý thức. Thùy trán (frontal lobe) của não quyết định suy nghĩ nào trở nên có ý thức và suy nghĩ nào chỉ đơn giản là được cất đi. Nhưng nó có thể trở nên mệt mỏi hoặc suy nhược, đó là lúc mọi người thường mắc phải hội chứng bài hát trong đầu và những suy nghĩ xâm nhập khác nhất, Susan Ball, một nhà tâm lý học lâm sàng tại Trường Y Đại học Indiana cho biết. Và một khi bài hát không mong muốn nổi lên, rất khó để nhồi nhét nó trở lại tiềm thức. “Càng cố kìm nén một suy nghĩ, bạn càng nghĩ về nó,” Ball nói. “Chúng tôi gọi đây là hiện tượng con voi màu hồng. Hãy bảo não bộ đừng nghĩ về những con voi màu hồng, và chắc chắn nó sẽ làm đúng như vậy.”
F. Đối với những người không bị ảnh hưởng quá nghiêm trọng, chỉ cần tránh một số loại nhạc nhất định có thể hữu ích. “Tôi biết một số bản nhạc khá ‘dính’ với tôi, vì vậy tôi sẽ không bật chúng vào sáng sớm vì sợ rằng chúng sẽ chạy quanh trong đầu tôi cả ngày,” Steven Brown, người được đào tạo thành nghệ sĩ dương cầm cổ điển nhưng hiện là nhà khoa học thần kinh tại Đại học Texas, cho biết. Anh ấy nói mình luôn có một bài hát trong đầu và bực mình hơn nữa là tâm trí anh dường như không bao giờ phát hết toàn bộ bài hát. “Nó có xu hướng bao gồm các đoạn ngắn từ 5 đến 15 giây. Chúng dường như bị lặp lại, đôi khi trong nhiều giờ liền.”
G. Trải nghiệm lặp đi lặp lại các vòng lặp âm nhạc của Brown có thể đại diện cho một hiện tượng gọi là ‘phân mảnh’ (chunking), trong đó mọi người ghi nhớ các cụm âm nhạc như một đơn vị trí nhớ duy nhất, Caroline Palmer, nhà tâm lý học tại Đại học Bang Ohio nói. Hầu hết người nghe có rất ít lựa chọn về việc họ sẽ nhớ những mảnh nào. Các phân mảnh cụ thể có thể đặc biệt ‘dính’ nếu bạn nghe chúng thường xuyên hoặc nếu chúng tuân theo các kiểu mẫu có thể đoán trước nhất định, chẳng hạn như tiến trình hợp âm của nhạc rock ‘n’ roll. Nghiên cứu của Palmer cho thấy một bản nhạc càng tuân thủ các kiểu mẫu này thì càng dễ nhớ. Đó là lý do tại sao bạn dễ bị ám ảnh bởi giai điệu của nhạc pop hơn là của một nhà soạn nhạc cổ điển như J. S. Bach.
H. Nhưng khả năng này có thể được sử dụng cho mục đích tốt cũng như sự phiền toái. Giáo viên có thể khai thác sự củng cố trí nhớ bằng cách phổ nhạc cho bài học của họ. Ví dụ, trong một thí nghiệm, những học sinh nghe một văn bản lịch sử được phổ lời thành một bài hát bắt tai sẽ nhớ các từ tốt hơn những người chỉ đơn thuần đọc chúng, Sandra Calvert, nhà tâm lý học tại Đại học Georgetown cho biết.
I. Loại nâng cao trí nhớ này thậm chí có thể giải thích nguồn gốc của âm nhạc. Trước khi chữ viết có thể được sử dụng để ghi chép lịch sử, con người đã ghi nhớ nó qua các bài hát, Leon James, nhà tâm lý học tại Đại học Hawaii nói. Và âm nhạc có thể còn có một vai trò quan trọng hơn nữa. “Mọi âm nhạc đều có một thông điệp,” ông nói. “Thông điệp này có chức năng đoàn kết xã hội và chuẩn hóa quá trình tư duy của con người trong xã hội.”
Tổng hợp từ vựng quan trọng trong bài đọc
-
Syndrome (n): Hội chứng.
-
Manifestation (n): Biểu hiện, sự thể hiện rõ ràng.
-
Acquisitiveness (n): Khả năng/Sự khao khát tiếp thu, gom góp (thông tin).
-
Go awry (idiom): Đi chệch hướng, hỏng bét.
-
Auditory cortex (n): Vỏ não thính giác.
-
Intrusive thoughts (n): Những suy nghĩ xâm nhập (những suy nghĩ không mong muốn tự chen ngang vào đầu).
-
Suppress (v): Kìm nén, đè nén.
-
Conform to (v): Tuân thủ, phù hợp với.
-
Chunking (n): Kỹ thuật phân mảnh/gom nhóm thông tin (trong tâm lý học).
-
Set off (phrasal verb): Khởi động, kích hoạt.
Đáp án bài đọc và giải thích chi tiết
1. B
Câu hỏi: Người viết nói rằng ‘hội chứng bài hát trong đầu’ có thể xảy ra do não bộ…
Giải thích: Đoạn B chỉ ra nguyên nhân: “…because the brain is better at holding onto information than it is at knowing what information is important.” (bởi vì não bộ giữ thông tin tốt hơn là việc biết thông tin nào mới quan trọng). Tức là nó không thể quyết định được thông tin nào cần giữ lại (cannot decide what information it needs to retain).
2. A
Câu hỏi: Một giai điệu có nhiều khả năng nằm trong đầu bạn hơn nếu…
Giải thích: Đoạn C viết: “…superficial, repetitive pop tunes are, by their very nature, more likely to stick than something more inventive.” (những giai điệu nhạc pop hời hợt, lặp đi lặp lại… có nhiều khả năng dính lại hơn là thứ mang tính sáng tạo). Từ “superficial, repetitive” đồng nghĩa với “simple”, và trái ngược với “inventive” chính là “unoriginal” (không sáng tạo, thiếu độc đáo).
3. D
Câu hỏi: Robert Zatorre phát hiện ra một phần của vỏ não thính giác được kích hoạt khi các tình nguyện viên…
Giải thích: Đoạn D nhắc đến nghiên cứu của Robert Zatorre, ông “asked volunteers to replay the theme from the TV show Dallas in their heads” (yêu cầu tình nguyện viên phát lại/nhớ lại giai điệu của show Dallas trong đầu). Hành động “phát lại trong đầu” chính là “remembered a tune they had heard previously” (nhớ lại một giai điệu đã nghe từ trước).
4. E (Sandra Calvert)
Lý thuyết: Bản chất dễ nhớ của một số giai điệu có thể giúp ích cho các quá trình học tập khác.
Giải thích: Đoạn H, Sandra Calvert chỉ ra rằng: học sinh nghe văn bản lịch sử được phổ nhạc (giai điệu) thì nhớ từ tốt hơn là chỉ đọc (giúp quá trình học tập).
5. D (Caroline Palmer)
Lý thuyết: Âm nhạc có thể không phải lúc nào cũng được lưu trữ trong bộ nhớ dưới dạng các nốt nhạc riêng biệt.
Giải thích: Đoạn G, Caroline Palmer nhắc đến hiện tượng ‘chunking’, nơi mọi người nhớ các cụm âm nhạc như “a single unit of memory” (một đơn vị bộ nhớ duy nhất) thay vì từng nốt nhạc rời rạc.
6. F (Leon James)
Lý thuyết: Con người có thể đã bắt đầu tạo ra âm nhạc vì họ cần ghi nhớ mọi thứ.
Giải thích: Đoạn I, Leon James giải thích rằng trước khi có chữ viết, mọi người “memorised it in songs” (ghi nhớ lịch sử qua các bài hát), điều này giải thích nguồn gốc của âm nhạc.
7. B (Susan Ball)
Lý thuyết: Việc một bài hát quanh quẩn trong đầu có thể xảy ra thường xuyên hơn khi một phần của não bộ bị mệt mỏi.
Giải thích: Đoạn E, Susan Ball nói rằng thùy trán “can become fatigued or depressed, which is when people most commonly suffer from song-in-head syndrome” (có thể trở nên mệt mỏi… đó là lúc con người dễ mắc hội chứng này nhất).
8. I
Thông tin: Một tuyên bố rằng âm nhạc tăng cường các mối quan hệ xã hội.
Giải thích: Đoạn I ghi rõ thông điệp của âm nhạc: “functions to unite society” (có chức năng đoàn kết xã hội).
9. G
Thông tin: Hai lý do tại sao một số mẩu nhạc có xu hướng dính vào tâm trí bạn nhiều hơn những mẩu khác.
Giải thích: Đoạn G chỉ ra 2 lý do khiến một đoạn nhạc (chunk) trở nên “sticky”: (1) “if you hear them often” (nếu bạn nghe chúng thường xuyên) và (2) “if they follow certain predictable patterns” (nếu chúng tuân theo những kiểu mẫu dễ đoán).
10. E
Thông tin: Một ví dụ về cách não bộ có thể phản ứng trái ngược với mong muốn của bạn.
Giải thích: Đoạn E đưa ra ví dụ rất cụ thể về “hiện tượng con voi màu hồng” (pink elephant phenomenon). Nếu bạn bảo não bộ ĐỪNG nghĩ về con voi màu hồng, chắc chắn nó sẽ làm đúng như vậy (nghĩ về nó).
11. D
Thông tin: Tên của một phần trong não nơi hội chứng bài hát trong đầu bắt đầu.
Giải thích: Ngay câu đầu tiên của đoạn D: “The annoying playback probably originates in the auditory cortex.” (bắt nguồn từ vỏ não thính giác).
12. A
Thông tin: Các ví dụ về hai sự kiện hàng ngày có thể kích hoạt hội chứng bài hát trong đầu.
Giải thích: Đoạn A đưa ra 2 sự kiện đời thường: “You hear a pop song on the radio” (Nghe một bản nhạc pop trên đài) và “even just read the song’s title” (thậm chí chỉ cần đọc tựa bài hát).
13. F
Thông tin: Lời mô tả về những gì một người làm để ngăn ngừa hội chứng bài hát trong đầu.
Giải thích: Đoạn F kể về Steven Brown, ông ngăn ngừa hội chứng này bằng cách: “avoiding certain kinds of music” (tránh một số loại nhạc nhất định) và “will not play them in the early morning” (sẽ không bật chúng vào sáng sớm).
Bài đọc “A song on the brain” là một minh chứng hoàn hảo cho thấy các chủ đề khoa học trong bài thi IELTS Reading không hề khô khan mà lại cực kỳ gần gũi với đời sống. Qua việc phân tích các cơ chế của não bộ, chúng ta cũng phần nào hiểu được chiến thuật “Quét và Định vị từ khóa” (Scanning) để xử lý các câu hỏi Matching siêu tốc.
Đoàn Nương
Tôi là Đoàn Nương - Giám đốc trung tâm ngoại ngữ ECE. Tôi hiện đang là giảng viên của khoa ngôn ngữ các nước nói tiếng Anh - Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tôi đã có 19 năm kinh nghiệm giảng dạy IELTS và 15 năm là giảng viên Đại Học. Tôi mong muốn đưa ECE trở thành trung tâm ngoại ngữ cho tất cả mọi người, mang tới cho học viên môi trường học tập tiếng Anh chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tìm hiểu các khóa học tại ECE
Tin Tức Cùng Danh Mục
Giải mã bài đọc: Complementary & alternative medicine IELTS Reading
Stadium Australia IELTS Reading: Giải chi tiết & Dịch nghĩa
Father of Modern Management IELTS Reading: Dịch chuẩn & Giải
Satellite Technology IELTS Reading – Bài đọc IELTS về công nghệ vệ tinh

