Đáp án bài đọc: The Need to Belong IELTS Reading kèm bản dịch chuẩn
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Đáp án bài đọc: The Need to Belong IELTS Reading kèm bản dịch chuẩn
Tóm Tắt Nội Dung Bài Viết
Trong xã hội hiện đại, cảm giác bị “ra rìa” hay không được mời tham dự một bữa tiệc có thể gây ra những nỗi đau tâm lý sâu sắc. Tại sao con người lại nhạy cảm với sự cô lập đến vậy? Bài đọc “The Need to Belong” sẽ đưa bạn ngược dòng thời gian về thời tiền sử để giải mã bản năng này dưới góc độ tiến hóa, đồng thời hé lộ những chiến thuật tâm lý (cả vô thức lẫn hữu thức) mà chúng ta sử dụng để được xã hội chấp nhận.
Với các dạng bài như Summary Completion, Flow chart và Multiple Choice, đây là tài liệu tuyệt vời để rèn luyện kỹ năng định vị thông tin và hiểu sâu về cấu trúc đoạn văn. Các bạn hãy cùng ECE English khám phá chi tiết ngay sau đây!
Nội dung bài đọc (Reading Passage)
THE NEED TO BELONG
No one likes to feel left out, ignored by colleagues at meetings or not be invited to the big party that everyone is talking about. Imagine not being part of a joke, or worse still, if the joke is on you. For most people, living the life of an outsider can have a negative effect on self-esteem and mood. It can even lead to negative behaviour. The pull to belong is extremely strong. Scientists believe that, in part, there is an evolutionary explanation for why we have this need to belong.
In the past, people hunted and cooked together in tribes and each member of the group would be assigned a role. As each member had a purpose, it meant that in the event of the loss of one person, the group as a whole would suffer. For this reason, they had a vested interest in protecting each other. To our prehistoric ancestors, membership of a group meant the difference between survival and death. Those who were rejected and excluded from joining a group had to fend for themselves and struggled to stay alive alone in the wild. Apart from protection, being part of a group also ensured that genes could be passed on to future generations. Although it is very different now from the way our primitive ancestors lived, our brains have not had time to evolve to fit today’s lifestyles. In this day and age, it is no longer a matter of survival to be affiliated to a tribe or group, but the evolutionary instinct to find protection still lingers.
This inherent feeling of security that comes with being part of a group is powerful enough to make people employ both conscious and unconscious strategies to gain membership. One obvious way people try to be accepted into a group is self-presentation, which is the act of portraying yourself in the best possible light. An individual will attempt to outwardly display the characteristics which are important to the group’s advancement. At the same time, they will conceal any parts of their personality that may be seen as undesirable or not useful to a group. An example of self-presentation is the job application process. A candidate applying for a job will promote themselves as motivated, but is likely to hide the fact that they are disorganised. These conscious tactics that people use are not a surprise to anyone, but we also use other strategies unknowingly.
Psychologists Jessica Larkin, Tanya Chartrand and Robert Arkin suggested that people often resort to automatic mimicry to gain affiliation into groups, much like our primitive ancestors used to do. Before humans had the ability to speak, physical imitation was a method of begging for a place in the group. Most will be unaware they are doing it. Larkin and her co-workers decided to test this hypothesis.
They took a group of student volunteers and had them play a game called Cyberball, a ball-tossing arcade game that resembled American football. The volunteers were led to believe they were all playing against each other, but in actual fact they were not. The computer was manipulating the game by passing the ball to some volunteers and excluding others.
The ‘accepted’ and ‘rejected’ students were then asked if they enjoyed the game and about their opinions of the other players. Participants were then put alone in a room and their natural foot movements were filmed. Then a female entered the room under the pretence of conducting a fake photo description task. The female deliberately moved her foot during the task, but not in a way that would be noticeable to the volunteer. It turned out that the rejected students mimicked the female’s foot movements the most. This revealed that after exclusion, people will automatically mimic to affiliate with someone new.
However, Larkin and her colleagues wanted to go further. They believed that more often than not, in the real world, we actually know the people that reject us. How do we behave towards the group that we know has excluded us? The experiment was repeated with this question in mind. In the second experiment, only female volunteers played the Cyberball game, during which they experienced rejection by either men or women. Then each volunteer did the fake photo task, but this time with a man and then a woman. The results clearly indicated that the female students that felt rejected would unconsciously make more of an effort to mimic members of their own in-group – that is, other women – rather than men. This deep-wired instinct to mimic was not only directed towards random people, as initially thought, but targeted to specific groups, the particular group that did the rejecting in the first place.
To some, it is inconceivable why people will go to great lengths to be accepted into one of life’s social groups or clubs, enduring rejection and sometimes humiliation in order to be accepted. You only have to look at college campuses, which are notorious for strict initiations inflicted on candidates desperately seeking membership. But it happens and will continue to happen, because the desire to belong is a very powerful force and a fundamental part of human nature.
Questions
Questions 1-5
Complete the summary.
Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.
Modern mans basic need to belong to clubs and groups dates back to early history. Each person within the group had a 1 ________ to play and was considered integral to the entire groups dynamics and success. For an individual, belonging to a group could affect their chances of 2 ________. In those times, few could avoid death living alone in 3 ________. Living with other humans offered 4 ________ from danger. Staying in a group also meant that 5 ________ could be passed down to descendants.
Question 6-10
Complete the flow chart below.
Use NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.
THE PROCEDURE FOR LARKIN’S EXPERIMENT
-
Volunteers believed they were playing a computer game, similar to 6 ________.
-
The computer was controlling the gameplay, 7 ________ to some and not others.
-
The volunteers gave their 8 ________ after the game.
-
Each volunteer first sat on their own in a room and had their foot movements 9 ________.
-
The volunteer took part in a task with a woman who 10 ________ on purpose.
Question 11-13
Choose the correct letter A, B, C or D.
11. Which of the following is NOT mentioned in the first paragraph?
A. one experts view on evolution
B. the consequences of being excluded
C. being made fun of by the people around you
D. a social event that people are eagerly awaiting
12. According to the article, which method do people consciously use to obtain membership into their chosen group?
A. They tell the group they are strongly motivated.
B. They convey the best parts of their personality to the group.
C. They show how the group will be important to their lives.
D. They alter aspects of their personality to suit others.
13. The writers main purpose in writing this article is to
A. explain how people feel when they face rejection.
B. encourage people to go it alone and not be part of a group.
C. show the unconscious drive behind the need to belong.
D. compare how the modern lifestyle is different to the past.
Dịch nghĩa bài đọc hoàn chỉnh
Không ai thích cảm giác bị bỏ rơi, bị đồng nghiệp phớt lờ trong các cuộc họp hay không được mời đến bữa tiệc lớn mà mọi người đang bàn tán. Hãy tưởng tượng bạn không hiểu được một câu đùa, hoặc tệ hơn, bạn chính là mục tiêu của câu đùa đó. Với hầu hết mọi người, việc sống như một người ngoài cuộc có thể gây tác động tiêu cực đến lòng tự trọng và tâm trạng, thậm chí dẫn đến những hành vi tiêu cực. Sự thôi thúc được thuộc về một nhóm là cực kỳ mạnh mẽ. Các nhà khoa học tin rằng, xét về một góc độ nào đó, có một lời giải thích về mặt tiến hóa cho việc tại sao chúng ta lại có nhu cầu này.
Trong quá khứ, con người săn bắn và nấu nướng cùng nhau trong các bộ lạc và mỗi thành viên đều được phân công một vai trò (role). Vì mỗi người đều có mục đích riêng, điều đó có nghĩa là nếu mất đi một người, cả nhóm sẽ phải chịu tổn thất. Vì lý do này, họ có quyền lợi gắn liền trong việc bảo vệ lẫn nhau. Đối với tổ tiên tiền sử của chúng ta, việc là thành viên của một nhóm có nghĩa là sự khác biệt giữa sống sót (survival) và cái chết. Những người bị từ chối và bị loại khỏi nhóm phải tự xoay xở và vật lộn để duy trì sự sống một mình trong thế giới hoang dã (the wild). Ngoài sự bảo vệ (protection), việc là một phần của nhóm còn đảm bảo rằng gen (genes) có thể được truyền lại cho các thế hệ tương lai. Mặc dù cuộc sống hiện nay đã khác xa so với tổ tiên nguyên thủy, não bộ của chúng ta vẫn chưa kịp tiến hóa để phù hợp với lối sống ngày nay. Ở thời đại này, việc gia nhập một bộ lạc hay một nhóm không còn là vấn đề sống còn, nhưng bản năng tiến hóa để tìm kiếm sự bảo vệ vẫn còn tồn tại.
Cảm giác an toàn vốn có khi là một phần của nhóm mạnh mẽ đến mức khiến con người sử dụng cả các chiến lược có ý thức và vô thức để trở thành thành viên. Một cách rõ ràng nhất mà mọi người cố gắng để được chấp nhận vào một nhóm là sự tự trình bày (self-presentation) – hành động khắc họa bản thân dưới góc độ tốt nhất có thể. Một cá nhân sẽ cố gắng thể hiện ra bên ngoài những đặc điểm quan trọng đối với sự tiến bộ của nhóm. Đồng thời, họ sẽ che giấu bất kỳ phần tính cách nào bị coi là không mong muốn hoặc không hữu ích cho nhóm. Một ví dụ về sự tự trình bày là quá trình xin việc. Một ứng viên xin việc sẽ quảng bá bản thân là người có động lực, nhưng có khả năng sẽ che giấu sự thật rằng họ là người thiếu ngăn nắp. Những chiến thuật có ý thức này không gây ngạc nhiên cho ai, nhưng chúng ta còn sử dụng các chiến lược khác một cách vô tình.
Các nhà tâm lý học Jessica Larkin, Tanya Chartrand và Robert Arkin gợi ý rằng mọi người thường tìm đến sự bắt chước tự động (automatic mimicry) để gia nhập nhóm, giống như tổ tiên nguyên thủy của chúng ta đã từng làm. Trước khi con người có khả năng nói, sự bắt chước vật lý là một phương thức để “xin” một vị trí trong nhóm. Hầu hết mọi người sẽ không nhận ra họ đang làm điều đó. Larkin và các đồng nghiệp đã quyết định kiểm tra giả thuyết này.
Họ chọn một nhóm sinh viên tình nguyện và cho họ chơi một trò chơi có tên Cyberball, một trò chơi điện tử tung bóng giống như bóng bầu dục Mỹ (American football). Các tình nguyện viên bị dẫn dắt để tin rằng họ đang chơi đấu với nhau, nhưng thực tế không phải vậy. Máy tính đang điều khiển trò chơi bằng cách chuyền bóng (passing the ball) cho một số tình nguyện viên và loại bỏ những người khác.
Những sinh viên được “chấp nhận” và bị “từ chối” sau đó được hỏi liệu họ có thích trò chơi không và về ý kiến (opinions) của họ đối với những người chơi khác. Những người tham gia sau đó được đưa vào một căn phòng một mình và các cử động chân tự nhiên của họ được quay phim (filmed). Sau đó, một phụ nữ bước vào phòng dưới cái cớ thực hiện một nhiệm vụ mô tả ảnh giả. Người phụ nữ này đã cố tình cử động chân (moved her foot) trong khi thực hiện nhiệm vụ, nhưng theo cách không để tình nguyện viên chú ý. Kết quả là những sinh viên bị từ chối bắt chước cử động chân của người phụ nữ nhiều nhất. Điều này tiết lộ rằng sau khi bị loại trừ, con người sẽ tự động bắt chước để liên kết với một người mới.
Tuy nhiên, Larkin và các đồng nghiệp muốn đi xa hơn. Họ tin rằng trong thế giới thực, chúng ta thường biết những người từ chối mình. Chúng ta hành xử thế nào đối với nhóm mà ta biết đã loại trừ mình? Thí nghiệm được lặp lại với câu hỏi này. Trong thí nghiệm thứ hai, chỉ có các tình nguyện viên nữ chơi Cyberball và họ trải qua sự từ chối từ nam giới hoặc nữ giới. Sau đó, mỗi tình nguyện viên thực hiện nhiệm vụ ảnh giả, nhưng lần này với một người đàn ông và sau đó là một người phụ nữ. Kết quả chỉ ra rõ ràng rằng những sinh viên nữ cảm thấy bị từ chối sẽ vô thức nỗ lực bắt chước các thành viên trong nhóm của mình – tức là những phụ nữ khác – hơn là nam giới. Bản năng bắt chước thâm căn cố đế này không chỉ hướng tới những người ngẫu nhiên như suy nghĩ ban đầu, mà nhắm vào các nhóm cụ thể, chính là nhóm đã từ chối họ ngay từ đầu.
Đối với một số người, thật khó hiểu tại sao con người lại sẵn sàng làm mọi cách để được chấp nhận vào một trong các nhóm xã hội hoặc câu lạc bộ, chịu đựng sự từ chối và đôi khi là sự nhục nhã để được chấp nhận. Bạn chỉ cần nhìn vào các cơ sở đại học, nơi vốn nổi tiếng với những nghi lễ nhập hội nghiêm ngặt gây ra cho các ứng viên đang khao khát tìm kiếm tư cách thành viên. Nhưng điều đó đã và sẽ tiếp tục xảy ra, bởi vì khát vọng được thuộc về là một thế lực vô cùng mạnh mẽ và là một phần cơ bản của bản chất con người.
Tổng hợp từ vựng & Đáp án bài đọc chi tiết
| Từ vựng | Ý nghĩa | Ngữ cảnh trong bài |
| Vested interest | Quyền lợi gắn liền | Bảo vệ lẫn nhau để cả nhóm tồn tại. |
| Fend for themselves | Tự xoay xở | Những người bị loại khỏi nhóm phải tự sống sót. |
| Affiliated | Gia nhập, liên kết | Việc gia nhập bộ lạc không còn là sống còn. |
| Self-presentation | Sự tự trình bày | Chiến thuật hữu thức để gây ấn tượng tốt. |
| Automatic mimicry | Bắt chước vô thức | Chiến thuật vô thức để được chấp nhận. |
| Inconceivable | Không thể hiểu nổi | Việc chịu đựng nhục nhã để vào hội. |
Giải mã đáp án
1. role: Đoạn 2 ghi “each member… would be assigned a role”.
2. survival: Đoạn 2 ghi “difference between survival and death”.
3. the wild: Đoạn 2 ghi “alone in the wild”.
4. protection: Đoạn 2 ghi “Apart from protection…”.
5. genes: Đoạn 2 ghi “ensure that genes could be passed on”.
6. American football: Đoạn 5 ví Cyberball giống “American football”.
7. passing the ball: Đoạn 5 giải thích máy tính “manipulating the game by passing the ball to some…”.
8. opinions: Đoạn 6 ghi “asked… about their opinions of the other players”.
9. filmed: Đoạn 6 ghi “natural foot movements were filmed”.
10. moved her foot: Đoạn 6 ghi “female deliberately moved her foot”.
11. A: Đoạn 1 nhắc đến hậu quả bị loại bỏ (B), bị chế nhạo (C – joke is on you), sự kiện xã hội (D – big party), nhưng không nhắc đến quan điểm của một “chuyên gia cụ thể” nào (Expert’s view). Chỉ nói chung là “Scientists believe”.
12. B: Đoạn 3 nói về self-presentation: “portraying yourself in the best possible light” ~ convey the best parts.
13. C: Mục đích chính là chỉ ra “unconscious drive” (động lực vô thức – chính là thí nghiệm về bắt chước) đằng sau nhu cầu này.
Hy vọng rằng thông qua việc “mổ xẻ” các chiến thuật từ hữu thức đến vô thức trong bài, bạn sẽ có cái nhìn sắc bén hơn khi đối mặt với các dạng bài Summary hay Flow chart của phần thi IELTS Reading. Hãy nhớ rằng: trong Reading, đôi khi chúng ta cũng cần “bắt chước” cách tư duy của người ra đề để tìm thấy đáp án chính xác nhất. Chúc bạn ôn luyện hiệu quả và sớm đạt aim.
Đoàn Nương
Tôi là Đoàn Nương - Giám đốc trung tâm ngoại ngữ ECE. Tôi hiện đang là giảng viên của khoa ngôn ngữ các nước nói tiếng Anh - Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tôi đã có 19 năm kinh nghiệm giảng dạy IELTS và 15 năm là giảng viên Đại Học. Tôi mong muốn đưa ECE trở thành trung tâm ngoại ngữ cho tất cả mọi người, mang tới cho học viên môi trường học tập tiếng Anh chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tìm hiểu các khóa học tại ECE
Tin Tức Cùng Danh Mục
Source of Knowledge IELTS Reading: Bản dịch & Giải chi tiết
Giải mã bài đọc From A Novice To An Expert IELTS Reading chi tiết
Accidental Scientists IELTS Reading: Dịch bài đọc & giải chi tiết
Quy đổi điểm IELTS học viện Báo chí và Tuyên truyền (AJC) năm 2026

